Bùi Tiến 的个人资料Truongbt照片日志列表更多 工具 帮助

日志


2007/9/12

Sống để yêu thương

CÁI CHẠM CỦA TÌNH YÊU


Tôi đã từng làm một cuộc nghiên cứu tự nguyện ở Ấn Độ suốt một năm khi tôi quyết định đi làm tình nguyện tại "Ngôi nhà của Mẹ Teresa cho những người bệnh tật, nghèo khó và sắp chết" ở Calcutta. Tôi biết cuộc nghiên cứu đã rất có ích, nhưng tôi không thể cưỡng lại được cảm giác đất nước Ấn Độ đang gọi tôi để làm một việc gì khác nữa. Tôi cảm thấy chỗ của tôi là ở Calcutta, giữa những người "nghèo nhất của những người nghèo". Và cuối cùng vào một ngày nọ, tôi đã đủ dũng cảm để nghe theo trái tim mình và đáp chuyến tàu đi Calcutta.
Có những điều về Calcutta mà tôi sẽ mãi yêu thương. Tuy còn những lề đường rạn nứt, dơ bẩn, những hàng cây đầy bụi và khói bụi của xe cộ, nhưng có một sự tràn ngập tình cảm con người nới đây khiến tôi vẫn đi dạo trên đường với niềm vui. Thế nhưng, ngày mà tôi đến trên con đường bụi bặm này bên ngoài Ngôi nhà, tôi đã bị sốc.
Tôi đã sốc khi đối diện với nơi mà trái tim minh đã dẫn đến, nhưng tôi đã không thể đi theo vào cùng những tình nguyện viên đang tiến vào trong. Tôi thấy sợ hãi với những gì xảy ra ở trong kia mà mình không thể giúp gì được. Tôi đứng ở bên ngoài một mình cho đến khi không thể trì hoãn lâu hơn nữa. Tôi đi đến cánh cửa hẹp bằng gỗ và bước vào trong.
Điều đầu tiên tôi thấy là một người chết, được bọc trng một tấm chăn để chờ được mang đi. Tôi chưa từng bao giờ thấy cảnh tượng như vậy; mà chỉ chứng kiến người thân mình qua đời trong quan tài. Tôi dừng lại trước cơ thể gầy còm, quặt quẹo của ông ta. Một bà xơ tiến lại và hỏi tôi cần gì. Khi nhìn chiếc áo khoác đơn giản và đôi bàn tay chai sần của bà, tôi nhận ra bà đã tiếp xúc với người chết mỗi ngày. Chắc bà ta không muốn tôi làm mất thời gian của bà, nên tôi tự hứa rằng mình sẽ mạnh mẽ và không làm bà thất vọng. "Tôi đến đây để phụ giúp", tôi nói. "Tôi có thể làm được gì?"
Ngay lập tức bà xơ kéo tôi vào một căn phòng với cái tủ thuốc gần như rỗng và mở tung một cái tủ lớn hơn chứa chăn và tã lót. Không một lời chỉ dẫn, bà chỉ tôi tới cánh tay bị thương của một người phụ nữ và giục tôi làm. Ngay khi tôi đang tìm cái tạp dề, một đứa bé chừng hai tuổi thét lên sau lưng khi một người tình nguyện lau rửa những vết bỏng trên gần nửa cơ thể của em. Hai người khác thì đang lau rửa một cái lỗ ở chân một người phụ nữ. Tôi có thể thấy xương nhô lên từ miếng thịt đầy máu. Không thể tin được sự dũng cảm và sự khéo léo của những người tình nguyện ở đây! Một người chết, một đứa trẻ bị bỏng, một vết cắt thấy tận xương - tôi có thể giúp được gì đây? Tôi không phải là bác sĩ, mà chỉ là một nhà nghiên cứu.
Một tình nguyện viên người Mỹ gọi tôi: "Bạn lại đây và giúp tôi chứ?" Cô ta đang cố làm vệ sinh cho một bà cụ đang quằn quại trong đau đớn. Tôi giúp nâng bà ta lên và lau khô người bà. Nhưng ngay khi bà ta ra, một người khác lại được mang vào. Và tôi nhận ra công việc cứ như vậy trong những phút tiếp theo.
Trước tôi là hai hàng võng với những phụ nữ đang nằm trên đó. Những tình nguyện viên hối hả chạy tới lui, tắm rửa, lau chùi, cho ăn và thay tã. Họ dường như là làm việc theo cặp. Mỗi người đều đặn tới và đi. Tôi cảm thấy lạc lõng. Người Mỹ kia không còn cần tôi nữa, và tôi chẳng còn biết chỗ nào để bắt đầu. Mọi người đều thân thiện nhưng họ lại quá bận để có thể giải thích nhiều cho một người mới đến trễ như tôi. Và khi tôi tự nhủ mình có nên đi ra hay không thì một cô người Đức ném cho tôi một bộ đồ.
Trong hai giờ tiếp theo, tôi giặt, phơi và cố gắng nhẹ nhàng thay tã cho bệnh nhân, hết người này đến người khác. Một vài ngươi khóc lên đau đớn bằng tiếng Hindi; những người khác nhìn trừng trừng nhưng im lặng. Rõ ràng là họ đang bực tức với cô gái phương Tây trẻ đang đụng vào họ một cách vụng về, và tôi không hề trách họ.
Vào giữa trưa, những người tình nguyện ăn bánh và uống trà trên nóc nhà. Thật là tuyệt với khi được gặp những người đã làm việc với tốc độ gấp ba lần mà tôi có thể xoay sở được. Thế nhưng, tôi cảm thấy xấu hổ và thất vọng bởi tôi đã không thể làm gì để trông khác với những người phụ nữ dưới kia. Một lần nữa, lý trí nói rằng tôi đã làm được việc có ích, nhưng trái tim và tinh thần tôi lại thấy trống rỗng. Khi nhìn xuống những người bán hoa và trái cây ngồi cả ngày bên đường, tôi quyết định rằng mình phải tìm ý nghĩa của những việc mình làm ngày hôm đó.
Tôi chạy xuống lầu dưới, cảm thấy đầy đủ năng lượng cho việc cọ rửa tiếp tục. Nhưng trước sự ngạc nhiên của tôi, một tình nguyện viên bảo rằng bây giờ không phải là lúc cọ rửa mà là thời gian yên tĩnh, khi tôi có thể bỏ hàng giờ với một người phụ nữ. Tôi có thể chải tóc cho bà ta, nói chuyện với bà ta, hoặc nắm tay bà ta. Tôi bắt đầu đi dọc những chiếc giường và nhờ Thượng đế hãy chỉ tôi đến với một ai đó. Một vài người đang ngủ, và hầu hết những người còn thức thì quay lưng lại với tôi. Nhưng có một người nhìn thẳng vào tôi và gọi tôi bằng tiếng của bà ấy.
Ngồi trên giường, tôi tìm tay người phụ nữ, nhưng bà đã nắm thật chặt lấy cổ tay tôi trước. Mái tóc rối và xơ xác của bà được bôi bóng bởi thuốc mỡ, và làn da nhăn nheo thì xệ xuống tới cằm. Bà nhìn vào mắt tôi một cách dữ tợn trong một phút, hai phút - có lẽ là lâu hơn nữa. Tôi cảm thấy bối rối và định quay lại tìm hỏi một tình nguyện viên nào đó. Đột nhiên bà nắm lấy cổ tay tôi chặt hơn nữa, như muốn nói: không, cô không thể đi. Thời gian của cô vẫn chưa hết ở đây.
Tôi hít một hơi sâu, nhìn vào mắt bà và chợt nhận ra rằng thử thách của tôi là yêu thương mà không được sợ hãi. Tôi bắt dầu làm cái việc duy nhất mà tôi có thể nghĩ tới - xoa bóp cánh tay của bà. Tôi lại tiếp tục xoa bóp cánh tay kia khi đặt bà ta nằm lên gối. Bà nhắm mắt lại. Tôi tìm một ít nước và bóp vai cho bà. Đột nhiên bà kéo áo lên và chỉ vào cái bụng nhăn nheo như gương mặt của bà ít phút trước; tôi cũng mát xa chỗ đó cho bà. Cơ thể bà thả lỏng ra theo đôi tay tôi chạm vào người bà, và gương mặt bà cũng bắt đầu giãn ra. Trong vòng hơn một giờ, tôi đã xoa bóp hai chân, lưng, đầu và cuối cùng là mặt bà.
Trong khoảng thời gian ấy, dấu vết của năm tháng như tan chảy trên khuôn mặt bà. Cuối cùng, khi bà mở mắt ra, đôi mắt ấy tràn ngập sự thanh bình đến nỗi tôi bật khóc. Thật kỳ diệu khi chỉ vài giờ trước đây tôi còn cảm thấy mình vô dụng. Tôi đã quên mất tôi muốn chia sẻ sức mạnh hàn gắn của sự tiếp xúc như thế nào. Nhưng bà đã nhìn thấu qua nỗi sợ hãi của tôi và cho tôi món quà tuyệt vời nhất - cơ hội để yêu một người khác trọn vẹn đến nỗi có thể biến đổi cả hai người. Tôi sẽ luôn nhớ cái thời điểm ấy như những giây phút đẹp và quý nhất trong đời, và sẽ kính trọng bà như một trong những nguời thấy tuyệt vời nhất của tôi.

Kayte Fairfax
Nếu chúng ta cầu nguyện, chúng ta sẽ tin; nếu chúng ta tin, chúng ta sẽ yêu thương; nếu chúng ta yêu thương, chúng ta sẽ phụng sự.
Mẹ Teresa


QUÝ BÀ CÓ GIỌNG NÓI BIẾT CƯỜI


Mẹ của tôi, Rosie, bắt dầu công việc tình nguyện đầu tiên của mình vào cuối những năm 1950. Với năm đứa trẻ bướng bỉnh như... à... như tôi, mẹ tôi đã phải tìm một cách tạm thời nhưng chính đáng để thoát khỏi nhà.
Tôi là đứa nhỏ nhất trong đám cứng đầu đã giúp "xua đuổi" để mẹ tôi trở thành một tình nguyện viên. Nhưng chúng tôi không hối tiếc bởi điều này đã định hướng cho cuộc sống của cả mẹ và chúng tôi trong bốn mươi năm sau đó.
Bởi một trong những đứa cháu yêu quý của Mẹ bị mù, Mẹ đã chọn đăng ký vào tổ chức phi lợi nhuận quốc gia mang tên "Tổ chức ghi âm cho người mù và người mắc chứng khó đọc" (RFB&D) đặt tại Upland, một phòng thu ở California.
Mải mê hoàn toàn với công việc, mẹ Rosie đã trở thành hội trưởng (năm lần), người đứng đầu tổ chức quyên góp và là thần tượng của những tân binh tình nguyện. Niềm say mê của bà dễ ảnh hưởng đến nỗi không ai có thể từ chối bà.
Khi mẹ tôi nhận ra những sinh viên bị mù có nhu cầu nhận biết những cuốn băng thu âm sách giáo khoa, bà đã học chữ nổi Braille và làm những tấm thẻ phân biệt cho những cuốn băng ấy. Sau đó bà dạy chữ nổi Braille cho những người bình thường, trẻ em bị yếu thị lực và những sinh viên địa phương.
Mẹ tôi có hai niềm say mê: một dành cho gia đình và một dành cho những người bị yếu mắt. Bà quyết tâm cam kết cho tất cả sinh viên đều có sự công bằng và bảo vệ cho mục tiêu ấy. Ngoài ra, bà đã tốt nghiệp đại học một năm trước khi tôi tốt nghiệp bởi vì, như bà nói và tôi vẫn nhớ: "Việc ghi âm cho những người mù nên có những tình nguyện viên có trình độ đại học hơn, con à."
Vào một dịp nọ, mẹ Rosie có dịp gặp một người mù. Ngay khi bà giới thiệu về mình cho chàng trai ấy, anh ta kêu lên: "Ồ, tôi biết bà. Bà là quý bà có giọng nói biết cười!"
Mẹ tôi đã sống năm cuối cùng của đời với sự đau đớn tột cùng. Căn bệnh ung thư đã di căn sâu vào trong, và sự đau đớn là một cái gì đó bà không thể hiểu được hay bị khuất phục. Sau bốn mươi năm làm tình nguyện viên - kể cả những chuyến đi hàng tuần đến phòng thu - những người của hội RFB&D đã lập một phòng thu ngay tại nhà mẹ tôi, bởi đi đến Upland để thu âm sẽ quá cực cho bà.
Vào những ngày khỏe mạnh, mẹ tôi có thể thu những cuốn sách đọc khoảng mười lăm phút trong phòng khách cho những đứa trẻ mà bà muốn chắc chắn chúng được học ở trường. Và cuối cùng, khi đã quá yếu đến nỗi không thể ghi âm và chống đỡ với sự đau đớn được nữa, bà dùng những ngày cuối cùng của mình cho việc đọc và sửa những bài học chữ nổi Braille cho những sinh viên mù rất cần đến bà.
Nhưng trước khi mẹ tôi qua đời, bà bắt chúng tôi phải thề là không tổ chức đám ma, nếu không bà dọa sẽ về ám chúng tôi.
Chờ cho đến khi tôi trở về từ Sacramento và đợi thêm một ngày để em tôi, Richard, có thể tổ chức sinh nhật vui vẻ vào ngày 3 tháng Sáu, mẹ tôi - Rose Betty Kelber - một người làm tình nguyện trong gần suốt cuộc đời mình, đã mất vào ngày 4 tháng Sáu năm 1998. Bà là một người đầy nghị lực, luôn quan tâm và đặt người khác lên trên bản thân mình. Gia đình chúng tôi đã cùng nhau vượt qua nỗi mất mát này và tránh lời dọa của Mẹ bằng cách tổ chức "Lễ tưởng nhớ một cuộc đời." Khi các anh chị em, cha tôi, và tôi ngồi chết lặng ở hàng đầu trong ngôi đền Beth, và khi những đứa trẻ mồ côi đang chuyển linh cửu mẹ tôi, chúng tôi sững sờ khi nhìn thấy hơn hai trăm người ngồi sau chúng tôi. Mọi người đã đến đây để nói lời tiễn biệt với Mẹ. Chúng tôi nghi ngờ rằng những năm tình nguyện của Mẹ lại có ý nghĩa rất lớn đối với những người phụ thuộc vào bà.
Tôi sẽ không thể qên những gương mặt đó. Họ đau buồn trước sự mất mát của một người đã cống hiến quên mình. "Quý bà với giọng nói biết cười", người đã truyền cảm hứng và dẫn dắt họ, giọng nói ấy giờ đây không còn nữa.
Một trong những người bạn thân của mẹ tôi nói: "Tôi chưa từng biết một người nào có tấm lòng rộng rãi như Rosie. Tài năng và sức mạnh đặc biệt của bà đã được cống hiến với sự quan tâm sâu sắc nhất cho hạnh phúc của người khác. Cuộc đời bà là món quà cho tất cả những ai từng biết bà ấy." Đó chính là Mẹ của tôi.
Giờ đây tọi đã làm việc cho hội RFB&D ở Los Angeles được sáu năm. Ngày nào tôi cũng được nghe tiếng vọng của Mẹ: "Con yêu của mẹ, đây là một tổ chức rất tuyệt vời. Con phải đảm nhận nó đấy!"
Bây giờ tôi có thể thấy tôi trong vị trí công việc với trái tim và tâm hồn của một tình nguyện viên. Chính ký ức mãi mãi về Mẹ đã giúp tôi nhận ra rằng mỗi người trong chúng ta sẽ nhận được một món quà đặc biệt nào đấy mà nó có thể thay đổi biết bao nhiêu cuộc đời.

Diane Kelber
Người ta luôn là bạn bè tốt khi họ cùng làm những điều họ thực sự yêu thích
Samuel Butler

2007/9/10

Ngọc xá lị - bí ẩn chưa được khám phá



Một viên ngọc xá lị.

Đó là những tinh thể đủ màu sắc, long lanh như ngọc, rắn như kim cương, búa đập không vỡ, lửa thiêu không cháy, được tìm thấy trong tro hài cốt của một số nhà tu hành.

Cho đến nay, khi nền khoa học kỹ thuật của nhân loại đã phát triển ở trình độ cao, các viên xá lị vẫn tồn tại như một bí ẩn.

Bảo vật của nhà Phật

"Xá lị" là phiên âm của từ "sarira" trong tiếng Phạn, nghĩa đen là “những hạt cứng”. Theo ghi chép trong lịch sử Phật giáo, khi Phật tổ Thích Ca Mâu Ni viên tịch, các tín đồ đã đem thi hài đi hỏa táng. Sau khi lửa tàn, họ phát hiện trong tro có rất nhiều tinh thể trong suốt, hình dạng và kích thước khác nhau, cứng như thép, lóng lánh và tỏa ra những tia sáng muôn màu, giống như những viên ngọc quý. Họ đếm được cả thảy 84.000 viên, đựng đầy trong 8 hộc và 4 đấu. Nó được đặt tên là xá lị, là bảo vật của Phật giáo.

Những năm gần đây, lịch sử Phật giáo và giới khoa học đã ghi lại khá nhiều trường hợp các vị cao tăng sau khi viên tịch, hỏa thiêu đã để lại xá lị. Tháng 12/1990, Hoằng Huyền pháp sư ở Singapore viên tịch, sau khi thi thể được hỏa thiêu, người ta phát hiện thấy trong phần tro của ngài có 480 hạt cứng, loại cỡ như hạt đỗ tương, loại nhỏ bằng hạt gạo, trông gần như trong suốt và tỏa sáng lấp lánh như kim cương. Sau khi phân tích, các nhà nghiên cứu đã xác định rằng đó chính là xá lị.

Tháng 3/1991, Phó hội trưởng Hội Phật giáo Ngũ Đài Sơn, ủy viên thường vụ Hội Phật giáo Trung Quốc, sau khi viên tịch đã được hỏa táng theo tâm nguyện của ngài. Trong tro có tới 11.000 hạt xá lị, đạt kỷ lục thế giới từ trước đến nay về những trường hợp xá lị được ghi nhận chính thức.

Viên xá lị có thể to như quả trứng vịt, đó là trường hợp của pháp sư Khoan Năng, vị trụ trì Tây Sơn Tẩy Thạch am ở huyện Quế Bình, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Ngày 27/9/1989, ngài viên tịch ở tuổi 93. Sau khi hỏa thiêu, người ta tìm thấy trong tro hài cốt 3 viên xá lị màu xanh lục, trong suốt, đường kính mỗi viên lên tới 3-4 cm, tựa như những viên ngọc lục bảo.

Trái tim thành xá lị

Trong một số trường hợp, xá lị chính là bộ phận nào đó của cơ thể không bị thiêu cháy. Tháng 6/1994, pháp sư Viên Chiếu, 93 tuổi, trụ trì chùa Pháp Hoa (núi Quan Âm, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc) trong một buổi giảng kinh tối đã nói với các đệ tử: "Ta sẽ để lại trái tim cho chúng sinh". Sau đó vị sư nữ này ngồi kiết già và viên tịch.

Theo đúng pháp quy của nhà chùa, các đệ tử đặt thi thể bà lên một phiến đá xanh, xếp củi chung quanh và hỏa hóa. Lửa cháy sáng rực suốt một ngày một đêm. Trong đống tro nguội, các đệ tử thu được 100 viên xá lị to nhỏ khác nhau. Có viên thì hình tròn (xá lị tử), có viên lại nở xòe ra như những bông hoa (xá lị hoa). Những bông xá lị hoa trông rất đẹp, lóng lánh như những bông hoa tuyết, chung quanh còn được giát bằng những hạt xá lị nhỏ cỡ hạt gạo, sắc đỏ, vàng, lam, nâu... hết sức kỳ diệu.

Nhưng điều kỳ diệu hơn cả là trái tim của bà không hề bị thiêu cháy. Sau khi ngọn lửa tắt, trái tim vẫn còn mềm, nóng, rồi mới nguội dần và cứng lại, biến thành một viên xá lị lớn, màu nâu thẫm. Khoảng 100 đệ tử có mặt trong lễ hỏa táng đã tận mắt chứng kiến hiện tượng lạ lùng đó.

Theo lời kể lại, pháp sư Viên Chiếu là người từ bi, tính tình điềm đạm và ôn hòa, thường ngày bà chỉ ăn rất ít. Chùa Pháp Hoa đã cho người mang những viên xá lị đó đến giao lại cho Hội Phật giáo tỉnh Thiểm Tây.

Khoa học còn "bó tay"

Vài chục năm trở lại đây, giới khoa học bắt đầu tìm cách giải thích những hiện tượng huyền bí được nhà Phật nói đến trong kinh điển. Thế nhưng khi bắt tay vào nghiên cứu hiện tượng xá lị, họ đã gặp không ít trở ngại.

Trước đây, người ta không tin là có xá lị Phật tổ. Mãi đến năm 1997, ông Peppé người Pháp khi tiến hành khảo cổ tại vùng Piprava, phía nam Népal, đã tìm thấy những viên xá lị đựng trong chiếc hộp bằng đá. Trên hộp có khắc những văn tự Brahmi, nội dung như sau: “Đây là xá lị của đức Phật. Phần xá lị này do bộ tộc Sakya, nước Savatthi phụng thờ”. Khám phá này đã chứng minh: Những gì được ghi trong kinh Trường A Hàm và một số kinh sách khác về việc phân chia xá lị đức Phật thành 8 phần cho 8 quốc gia cổ đại khi Phật nhập Niết bàn là có thật. Điều kỳ lạ là trải qua hơn 25 thế kỷ, xá lị đức Phật vẫn còn nguyên vẹn, lấp lánh màu sắc.

Về sự hình thành của những viên xá lị, cho đến nay vẫn tồn tại nhiều cách giải thích khác nhau. Các nhà xã hội học cho rằng, do thói quen ăn chay, thường xuyên sử dụng một khối lượng lớn chất xơ và chất khoáng, quá trình tiêu hóa và hấp thu rất dễ tạo ra các muối phosphate và carbonate. Những tinh thể muối đó tích lũy dần trong các bộ phận của cơ thể và cuối cùng biến thành xá lị.

Tuy nhiên, giả thuyết này không đủ sức thuyết phục. Bởi lẽ số người ăn chay trên thế giới có tới hàng trăm vạn, nhưng tại sao không phải ai khi hỏa táng cũng sinh xá lị? Số người theo đạo Phật cũng nhiều vô kể, thế nhưng tại sao trong cơ thể những tín đồ bình thường lại không có xá lị?

Một số nhà khoa học cho rằng, có thể xá lị là một hiện tượng có tính bệnh lý, tương tự như bệnh sỏi thận, sỏi bàng quang, sỏi mật... Giả thuyết này cũng khó đứng vững. Bởi vì, sau khi đưa xác đi thiêu, trong phần tro của những người mắc các chứng bệnh kể trên không hề phát hiện xá lị. Mặt khác, những cao tăng có xá lị thường sinh thời thường rất khỏe mạnh, tuổi thọ cũng rất cao.

Nhà Phật cũng có những quan điểm riêng về vấn đề xá lị. Quan điểm thứ nhất cho rằng xá lị là kết quả của quá trình tu hành và khổ luyện. Quan điểm thứ hai cho rằng đó là kết quả của quá trình tu dưỡng đạo đức, chỉ xuất hiện ở những người có tấm lòng đại từ đại bi, luôn làm việc thiện.

Tuy nhiên, cuối cùng thì xá lị đã được hình thành như thế nào? Thành phần của nó ra sao? Chẳng phải kim loại, chẳng phải phi kim, cũng chẳng phải kim cương, lục bảo, chỉ là tro cốt còn lại của người tu hành sau khi hỏa táng; vậy mà sao đốt không cháy, thậm chí vẫn sáng lấp lánh màu sắc, thách thức với thời gian, chẳng mảy may hư hỏng...? Hàng loạt câu hỏi như vậy cho đến nay vẫn chưa có lời giải đáp.