Bùi Tiến's profileTruongbtPhotosBlogListsMore Tools Help

Blog


    8/30/2008

    Chuyện Đời của "TƯ"

    Thiệt cất tiếng ca: "Đêm đông gió bấc lạnh lùng người viễn khách dừng chân nơi quán trọ nhìn cây trút lá trên hè vắng và lòng buồn mơ quay về nơi dĩ vãng. Ôi những ngày thơ mộng đã qua không bao giờ tìm thấy nữa..."

    Thiệt ca nức nở như những tiếng nấc nghẹn ngào. Đầu Thiệt nghiêng nghiêng bên tay đàn, những ngón tay buông bắt hấp tấp trên hàng phím trũng. Hết một câu, Thiệt gõ nhịp xuống mặt cây "ghi-ta" đã tróc sơn. Gian nhà trần, nền đất đập ẩm mốc. Ngọn đèn dầu lung lay treo ở cột trên đầu Thiệt. Trên cái ghế bố, ngoài Thiệt còn ba người khác: con Lai, chị Sáu và Tư. Lai nằm co gối đầu lên đùi Thiệt, chị Sáu hút thuốc lá, Tư ngồi thu ở đầu ghế. Xóm khuya dần và trận mưa tới. Bài ca dứt thì Tư cũng đã khóc. Con Lai cười:
    "Anh làm tiếp bản nữa nghe chơi".
    Chị Sáu nói:
    "Rầu thấy mẹ, lại mưa rồi".
    Tiếng hát của Thiệt lẫn trong tiếng mưa hiu hắt, khuôn mặt Thiệt xa lắc. Tư ghét con Lai, nó lớn tuổi hơn Tư, ngộ hơn Tư, lão luyện hơn Tư. Con mắt nó xanh, tóc nó hoe vàng, nó có phần máu Tây trong người. Chị Sáu đã già úa không còn ngực, mặt nghiền nặng. Tư muốn không còn hai người ấy để được một mình ngồi gần nghe Thiệt ca, những bài vọng cổ ấy thấm tận vào lòng Tư không bao giờ có được. Tư cũng muốn bắt chước "viễn khách" quay về tìm dĩ vãng nhưng dĩ vãng của Tư ở đâu? Ai biết? Năm nay Tư mới mười bảy tuổi, Tư mồ côi cha mẹ năm được bảy tám tuổi gì đó. Ở với cha mẹ nuôi rồi trốn đi năm mười lăm tuổi để làm điếm. Dĩ vãng đâu phải là những hình ảnh mà người ta không muốn nhớ. Tư ở ruột cho vợ chồng chị Sáu – cả hai người này đều ghiền – đi khách về đưa tiền cho chị Sáu, chị nuôi cho Tư ăn mặc. Khi Tư bị bắt, vợ chồng chị lo lắng cho Tư, còn hơn là cô thân trong trường hợp hoạn nạn. Lâu lâu chị Sáu cũng biết điều mua cho Tư chỉ vàng lúc dư dật. Chị Sáu cũng thương Tư, thỉnh thoảng chị an ủi hứa hẹn với Tư sẽ lấy Tư cho thằng con trai độc nhất của chị khi nó lớn lên. Năm nay nó mới có mười ba tuổi, giữ việc canh gác cửa ngõ. Tư chẳng có một ý nghĩ nào.
    Thiệt không ca nữa ngồi yên. Anh chẳng ngó Lai cũng chẳng ngó Tư. Bốn người không biết nói gì với nhau. Đầu xóm không có lấy một tiếng chân người. Lát sau chị Sáu nói:
    "Tư này, con Phương chết rồi mày biết không?"
    Tư lắc đầu. Con Lai lên giọng:
    "Ho ra huyết mà không chết sao được?"
    Chị Sáu chép miệng:
    "Tội nghiệp, nó lấy được thằng chồng tốt mà trời không cho hưởng".
    Chồng của Phương là một anh chàng khách trú làm thợ sửa xe hơi, đã ngủ với Tư một lần và có cho thêm Tư mười đồng bạc.
    "Anh ca nữa đi anh Thiệt". Con Lai kéo tay Thiệt ngồi xuống vì Thiệt muốn đứng lên.
    "Thôi mày ơi, ca cho mày nghe hoài tao ngán lắm".
    Thiệt lấy tấm áo mưa trùm lên người. Chị Sáu hỏi:
    "Đi đâu thế mày?"
    "Đi kiếm chồng cho mấy con này".
    Con Lai bảo:
    "Nè em bảo anh lên xin ca trên đài phát thanh được đó nghe".
    Thiệt mò mẫm tránh những vùng sình lội. Mưa giỏ giọt gianh. Trời có ánh sáng màu sương đục. Thiệt lách hàng rào của trại cưa vào trong. Cả cái xưởng lớn chỉ treo một ngọn điện nhỏ, máy móc nín thinh và gỗ xẻ nằm ngửa trên đất. Thiệt kiếm một cây gậy cầm tay chống rồi lại theo khe hở ra ngoài. Những khóm nhà lá nhấp nhô làm ngõ không thành lối. Ra đến lộ Thiệt đứng dựa núp sau một gốc cây. Tiệm cà phê ở đầu phố còn đông người. Thiệt đứng chờ đợi và chửa rủa trời đất.
    Còn lại ba người đàn bà trong gian nhà, Lai nằm dài chiếm cả cái ghế bố, Tư vẫn ngồi dưới chân Lai. Chị Sáu ra đứng tựa cửa hút thuốc lá.
    Chị Sáu hỏi Tư:
    "Hồi chiều mày có mua thuốc uống không Tư?"
    "Dạ, rồi".
    "Đúng tên thuốc không mày?"
    "Dạ đúng".
    "Phải coi chừng bịnh, khổ nghe con".
    "...Những dòng nước mắt cứ từ con tim đau khổ dâng lên nghẹn lời..."
    Phải, Tư cảm thấy đúng như câu ca của Thiệt hồi nãy. Con Lai đang nghêu ngao một mình:
    "Một mai thiếp có xa chàng,
    Đôi bông thiếp trả đôi vàng thiếp xin".
    Rồi nó kêu lớn:
    "Rầu thúi ruột chị Sáu ơi!"
    Chị Sáu gắt:
    "Mày cũng biết rầu sao mày?"
    "Trời ơi! Bộ tôi không là người sao chị".
    Con Lai nhỏm nửa người nói xong lại ngã xuống. Nó trêu Tư, nhái một câu "chuồn chuồn" trong tuồng "Hoa rơi cửa Phật": "Em Tư ơi! Ôi chưa đầy hai năm mà một vẻ đẹp thùy mị kín đáo đáng yêu trước kia nay đã biến thành một nạn nhân khốn khổ. Em Tư ôi! Tội tình chi mà... em phải... ơ... ơ... đọa... đầy".
    Con Lai khoái chí cười ngất. Tư òa khóc. Chị Sáu la:
    "Tư, bộ mày điên sao Tư?"
    Tư vẫn khóc, nước mắt ấm cả cổ họng. Con Lai cười, mắt nó nhắm hết lại:
    "Đồ quỷ, có im đi không, khuya rồi".
    Một lát chỉ còn tiếng thút thít của Tư, và Lai chuyển sang bản vọng cổ "Đêm đông gió bấc lạnh lùng" của Thiệt.
    Từ xa một người đàn ông đi lại, dáng thiểu não. Đến ngang chỗ Thiệt núp, người ấy bật quẹt châm thuốc không trông thấy Thiệt. Thiệt rút thuốc đến gần nói:
    "Thầy cho em xin chút lửa".
    Người khách bật cây quẹt khác cho Thiệt. Trông vẻ mặt khách dữ, Thiệt hỏi:
    "Có phải hồi hôm thầy dặn em đón thầy không?"
    Khách không trả lời, Thiệt tiếp:
    "Món này ngon lành lắm, em cam đoan thầy phải hứng. Lai mà".
    Khách ngần ngừ một phút khẽ gật đầu và theo chân Thiệt, Thiệt bắt đầu ngán sự im lặng của khách, nói:
    "Thầy coi chừng lội".
    Thiệt bỗng nghe tiếng hỏi sau lưng:
    "Phương còn ở đây không?"
    Giọng nói người miền ngoài. Thiệt yên bụng đáp:
    "Món này ngon hơn Phương mà thầy".
    Khách hỏi sang chuyện khác:
    "Xóm này chưa bị dỡ?"
    "Đông thêm thầy ơi! Dễ gì mà đi".
    Đất của xóm là đất của một hãng cưa máy nghiêng mãi xuống mé sông. Trại cưa bị xóm này vây bọc xâm lấn trông cũng tiều tụy. Chị Sáu ra cửa nghe ngóng. Thiệt và khách vào đến nơi đứng ở cửa. Con Lai ngồi dậy sửa lại đầu tóc. Tư cúi gầm đầu, mắt còn cay. Chị Sáu vồn vã:
    "Mời thầy vô".
    Khách vẫn đứng yên giữa cửa, người dong dỏng cao, khoác áo mưa xám nhà binh, đầu không chải, da mặt nhờn mồ hôi. Thiệt ra hiệu chỉ Lai cho khách. Khách không nói và nhìn chằm chằm vào Tư. Tư không cục cựa. Chị Sáu vội thúc:
    "Kìa Tư".
    Khi đứng lên thì người khách đã ra ngoài. Lai nhìn Tư căm tức. Lần thứ nhất Tư không ngờ đã thắng Lai. Tư thấy sung sướng. Chị Sáu đi trước dẫn lối, Tư đi gần khách phía sau. Tư hết khóc tỉnh táo, thỉnh thoảng liếc nhìn khách. Tư chẳng phân biệt được nét mặt. Càng vào sâu xóm càng tối càng yên tĩnh. Người khách phải cúi đầu qua những mái thấp. Căn nhà của chị Sáu gần mé sông. Thằng con chị Sáu đang ngủ trên bộ ván sát cửa vào. Nó choàng dậy khi nghe chị Sáu kêu:
    "Dậy mày, ra ngoài trông cửa".
    Gian ngoài hẹp thông sang nhà bếp chỗ chứa nước kê bộ tủ thờ và một bộ ván. Gian trong vuông vức kê một cái giường – của anh chị Sáu – kém một tấm "ri đô" bẩn thỉu. Khách ném áo mưa trên ván, Tư đi thẳng vào trong giường. Chị Sáu khóa trái cửa và cùng thằng con trai ra ngoài ngõ.
    Tư thấy ngọn đèn được vặn sáng lên và hình như khách ngồi xuống bộ ván ở ngoài. Không hiểu sao Tư không dám lên tiếng kêu. Tư nằm xuống giường lăn vào quay mặt vô vách. Nước trên cao đập vào những chân cừ ở dưới, mùi bùn nồng nồng. Tư ngủ quên trong vài phút ngắn. Tư tỉnh dậy nhẹ nhàng, người đàn ông nằm bên cạnh. Hắn ngửa mắt nhìn mái nhà im lặng. Tư e dè sán lại gần giúi đầu vào vai hắn. Người đàn ông quay lại với Tư, hỏi:
    "Em sợ anh phải không?"
    Tư gật đầu:
    "Việc gì mà sợ? Anh hiền không?"
    Người đàn ông ôm lấy Tư hỏi tiếp:
    "Em biết Phương không? Lần trước anh gặp Phương. Em hỏi Phương thì biết".
    Rồi người đàn ông hỏi tên của Tư, Tư đáp. Tư tin giọng nói ngọt ngào của người ấy. Mưa rào xuống trên sông, gió thổi tắt ngọn đèn, nhà tối thui. Người đàn ông hôn rất lâu trên môi Tư. Tư thở nhiều trong mũi. Khi Tư đã quen với hơi của người đàn ông, hắn bỗng nằm im và vuốt tóc Tư, nói:
    "Em giống như em gái của anh".
    "Hay em là em gái của anh". Tư nói rỡn.
    "Nếu em là em của anh thì anh đánh đòn".
    Tự dưng Tư thấy buồn. Tư hỏi:
    "Em gái của anh ở đâu?"
    "Ở ngoài Bắc với me anh".
    "Anh vô đây một mình?"
    Người đàn ông gật đầu.
    "Hồi nào?"
    "Di cư".
    Người đàn ông kể cho Tư nghe chuyện gia đình:
    "Em gái của anh ngoan lắm, anh hay ăn cắp tiền của nó, nó khóc. Nhưng khi nào anh không có tiền hỏi vay nó lại cho, chẳng bao giờ anh trả cả".
    "Đến bao giờ anh tính về ngoài ấy?"
    "Anh tính về?" – người đàn ông cười gằn – "Anh tính sao được, phải đợi thống nhất chứ".
    Tư không hiểu thống nhất là gì. Người đàn ông tiếp:
    "Nhưng anh không sống đến ngày ấy".
    "Anh chỉ nói bậy nào".
    Tư hôn vội lên môi người đàn ông vì không muốn nghe người ấy nói nữa. Khi Tư buông môi dựa tai vào ngực, Tư nghe giọng nói ở trong ấy:
    "Mai anh chết mất rồi".
    "Anh nói em sợ lắm".
    Người đàn ông ôm ghì lấy Tư và người Tư thu nhỏ lại.
    "Em ngoan lắm. Em ngoan như Phương vậy".
    Tư gỡ tay bạn, hỏi:
    "Anh biết Phương nhiều không?"
    "Một lần".
    "Phương lấy chồng rồi".
    "Tốt, rồi em cũng sẽ lấy chồng như Phương".
    "Phương vừa mới chết. Ho ra huyết".
    Người đàn ông nín thinh. Tư hỏi:
    "Anh hôn Phương không?"
    "Sao lại không?"
    Tư thành thật bảo:
    "Vậy mai anh phải về uống thuốc, ngừa bịnh đi".
    Người đàn ông bỗng nhiên cười dài, cười lớn vang động cả đêm khuya tĩnh mịch.
    "Cám ơn em, nhưng mai anh chết rồi còn đâu".
    Tư rùng mình sợ hãi.
    "Em biết anh đã hôn Phương, em còn dám hôn anh nữa không?"
    Tư choàng riết lấy lưng người đàn ông và hôn say đắm. Rồi Tư quờ tay sờ lên mái tóc ướt sũng của chàng. Những ngón tay của Tư lần theo viền mắt chàng đọng lệ.
    "Em thương anh".
    Tư thấy yêu đương bồng bột.
    "Thật sao? Tư".
    "Dạ".
    Đó là tiếng nói tự con tim của Tư. Giờ phút trôi qua và người yêu của Tư vẫn chưa trở về làm người khách. Chàng vẫn ôm ấp Tư như ôm đứa em gái. Mưa đã ngớt một cơn và bắt đầu một cơn mới. Tư hỏi:
    "Hồi nãy sao anh không đi với cô kia? Cô ấy đẹp hơn em".
    "Anh không cần đẹp, vả anh trông thấy em khóc".
    Tư nhõng nhẽo áp má vào má người yêu.
    "Anh muốn ở lại suốt đêm nay với em nhưng anh không có tiền để trả".
    Tư tủi lắm đáp:
    "Bốn trăm".
    "Anh còn trăm bạc cuối cùng".
    "Anh biết là em muốn anh ở lại với em, em thế nào cũng được. Nhưng em ở ruột cho chị Sáu, tiền chị ấy lấy em chẳng có quyền gì hết".
    Tư kể lể tình cảnh với người yêu và Tư khóc.
    "Giả tỷ em có tiền..."
    Người đàn ông vỗ về an ủi Tư, lấy tay lau nước mắt cho Tư, sờ trán Tư, chàng bỗng kêu lên:
    "Em đau?"
    "Không sao đâu anh". Tư sợ chàng sẽ hết yêu, vội nói.
    "Không phải, anh nghĩ là em phải uống thuốc cảm".
    "Em không có tiền".
    "Em biết là anh nghèo. Anh có bao nhiêu anh đưa hết cho em".
    Chàng trở dậy đốt đèn mang vào giường. Chàng dở ví soi lên. Cái ví da đen già cũ rách bươm không có một tấm ảnh nào. Chàng mỉm cười hỏi Tư:
    "Ví cũ quá hả? Của cha anh để lại cho anh, mấy chục năm đó". Chàng lục hết các ngăn dưới mắt Tư, chàng nói:
    "Một trăm độc nhất này để trả chị Sáu, còn lại của em tất cả là bao nhiêu, em đoán xem nào?"
    "Em không biết?"
    "Sáu đồng, sáu đồng đủ mua thuốc cảm".
    Tư cất sáu đồng bạc vào túi, chàng nằm xuống dặn:
    "Mai sáng nhớ mua thuốc ngay nghe không?"
    "Dạ".
    Chàng bỗng ngồi dậy nói:
    "A! anh còn để gia tài lại cho em. Em có thích không?"
    Tư ngơ ngác:
    "Một tấm vé số. Hy vọng là trúng".
    Tấm vé số gập làm tư giấu một ngăn kín. Chàng bảo Tư:
    "Tất cả hy vọng của anh đó. Anh cho em hy vọng của anh. Em sẽ trúng nghe không. Chỉ cần độ một trăm ngàn thôi. Em trả nợ độ mười ngàn, còn lại em ra mở tiệm làm ăn, lấy chồng, đẻ con và sung sướng".
    Tư hỏi lại:
    "Biết bao giờ em được sung sướng như vậy?"
    "Được chứ, mai anh chết rồi. Cái hy vọng của người chết cộng với cái hy vọng của em to lớn biết bao nhiêu. Anh chết để cho em trúng số. Em phải trúng nghe không?"
    Tư hỏi ngây thơ:
    "Anh chết thật? Tại sao anh chết?"
    Chàng cười:
    "Anh chết chứ. Chết cho em trúng số mà. Nếu anh không chết làm sao em trúng được".
    Tư không biết làm gì hơn là ôm người đàn ông vào gần mình. Tư nói:
    "Em nhớ mặt anh. Trúng số em đi kiếm anh".
    "Không thấy đâu, em ơi!"
    Tư khóc nức bất ngờ:
    "Anh chết thật sao anh?"
    "Anh chết thì em có mất gì đâu, đừng khóc nào, Tư".
    "Nhưng em muốn anh sống".
    "Ừ thì anh sống nhưng anh không bao giờ gặp em nữa cũng thế".
    Tư cứ muốn được nằm mãi, mặt úp vào cổ người yêu và mặt người yêu áp vào tóc Tư. Ngoài cửa có tiếng chị Sáu kêu:
    "Xong chưa Tư, sao lâu dữ?"
    Tư đáp:
    "Chưa, một chút nữa".
    Chàng bảo:
    "Thôi người ta đuổi anh đi rồi. Em có đuổi anh không?"
    Mắt Tư mờ đi sau màn lệ:
    "Không, em không đuổi anh. Em muốn giữ anh ở lại mà không được".
    Chàng mỉm cười:
    "Em gái anh ngoan lắm. Đến gần ngày mở số em nhớ dò cho kỹ nghe. Em phải trúng số".
    Tư níu tay người yêu:
    "Anh nằm nói chuyện với em thêm một lát nữa".
    Tiếng thằng con chị Sáu nói dóng bên ngoài:
    "Này, nó đang ruồng ở ngoài nghen".
    Có cả tiếng con Lai nói:
    "Du dương lâu vậy".
    Chị Sáu bảo Thiệt:
    "Mày đờn ca lên một khúc để chúng khỏi nghi mày".
    Thiệt dạo mấy cúng trầm nhất, lên giọng: "Ôi những ngày mơ mộng đã qua không bao giờ tìm thấy nữa, người viễn khách sau cuộc giang hồ phiên bạt đêm nay chỉ còn biết than khóc cho bao mộng đẹp tan vỡ...".
    Người đàn ông bảo:
    "Thôi cho xong đi".
    Tư nhìn trân trân người đàn ông cởi quần áo, nằm im không nhúc nhích. Chàng âu yếu cúi xuống cởi nút áo cho Tư. Tư vui sướng thấy mình không còn là một gái điếm vì Tư không tự mình làm lõa thể mình. Nhưng khi người đàn ông ôm lấy Tư thì Tư cố gắng nói:
    "Em có bịnh anh à".
    Chàng mỉm cười tha thứ nhìn vào mắt Tư, trong mắt chàng có cả sự âu yếm đủ cho một đời người.
    Chàng trở dậy chưa kịp nói thêm lời nào với Tư thì chị Sáu đã mở khóa lảng vảng ở gian ngoài. Chàng mặc quần áo đi ra, hình như chàng có nhìn Tư lần cuối nhưng Tư không trông rõ mắt chàng. Tư theo ra đứng nép bên cửa. Chàng đứng ngoài sân giữa chị Sáu và Thiệt, móc ví trả tiền cho chị Sáu. Tư bước vội ra vòng sau lưng chàng đi ra ngõ. Tư nghe chị Sáu nói:
    "Lần sau thầy đến chơi, đây là nhà của tôi".
    Tư ẩn vào ngách tối giữa hai căn nhà thấp. Tư nghe tiếng giày của chàng bước tới gần mình. Khi chàng đi ngang qua chỗ núp, chàng dừng lại châm thuốc lá, Tư khẽ gọi:
    "Anh".
    Que diêm chợp chờn. Tư thấy chàng mỉm cười. Tư vẫn không rời chỗ núp sợ chị Sáu bắt gặp. Tiếng chị Sáu kêu ở nhà:
    "Tư ơi! Con quỷ đi đâu mất rồi".
    Thiệt cũng kêu:
    "Tư ơi!"
    Chàng tiến lại gần ôm lấy Tư mà hôn, Tư dựa cả người vào vách nhà, muốn ngã quỵ vì yếu đuối. Chàng đặt vào tay Tư cái ví da đen:
    "Anh để nốt cho em cái gia tài của cha anh, trong ấy không có gì hết, chỉ có thẻ kiểm tra của anh. Em giữ để cất tấm vé số cho chắc. Nhớ nghe không, em phải trúng số nghe".
    Cái ví da đã mủn lép kẹp. Chàng bỏ đi không nhìn lại, dáng người cao cúi xuống. Tiếng chân của chàng đã khuất Tư linh cảm chàng chết thật. Chàng không nói rỡn. Tư cố gắng nhớ lại khuôn mặt chàng nhưng không được, hình ảnh mờ mờ tan thành khói, Tư cố gắng nhớ lại giọng nói của chàng như chỉ còn văng vẳng hơi gió trên sông. Tư nhét cái ví da vào bụng rùng mình lo lắng. Đến mai Tư sẽ không thể nhớ ra chàng được nữa. Tư khóc, không dám khóc thành tiếng.
    Nhưng một điều chắc chắn là trong bây giờ Tư đã có kỷ niệm. Tư đã có dĩ vãng để mỗi lần muốn nhớ Tư có thể gợi ra được.
    Chúc em may mắn, Tư ơi! Anh từ biệt.

    Tài Trí KỲ BÀ - Phong Kiến Đại Sư

    Từ cổ chí kim "đệ nhất thần y" là danh xưng dành cho những bậc thầy thuốc  giỏi. Thời Đông Châu Liệt Quốc, Hoa Đà là vị thần y độc nhất vô nhị in đậm trong lòng dân tộc Trung Hoa. Hầu hết, dường như mọi người trên thế giới chỉ biết có mỗi một Hoa Đà. Sự thật, nếu ai đã từng tham cứu vào lĩnh vực lịch sử văn hoá Phật Giáo, chắc sẽ không lạ gì với tên tuổi của Kỳ Bà, anh trai của vua A-xà-thế, con Bình Sa Vương. Mẹ Ngài là Nại nữ, chúng ta cũng cần biết qua sự ra đời ly kỳ của bà:
    Thời Phật tại thế, Ấn độ chia ra nhiều tiểu vương quốc, trong đó có nước Tỳ-da-ly nổi tiếng phồn thịnh. Vườn thượng uyển của vua nước này có một cây mít trái thơm ngon đặc biệt duy nhất trong vùng. Trong buổi tiệc chiêu đãi các quan đại thần, vua cho mang mít này lên, một vị đại thần giàu sang có thế lực lớn hàng đầu trong triều bấy giờ nghĩ: “Nhà ta không thua hoàng cung thứ gì, chỉ trừ loại mít này, nếu nay có được nó thì mình với quốc vương chẳng còn gì  kém nữa!” Nghĩ thế, ông bèn đánh bạo xin vua. Trong lúc vui đùa yến tiệc, vua sẵn   hạt mít mình đang ăn, liền đưa cho vị quan này, bảo đem về trồng sẽ cho trái như ý. Quan nhân đem về ươm bón kỹ lưỡng, một thời gian sau trong vườn ông có được cây mít xanh tốt như của quốc vương, nhưng kết trái lại đắng, không ăn được. Ông nghĩ chắc tại đất trong vườn mình không tốt, liền sai gia nhân lấy sữa 100 con bò, chưng cất thành đề hồ, mỗi ngày đem tưới cho cây. Năm sau cây cho trái ngọt hơn cả mít của vua, nhưng đồng thời trên thân cây lại mọc lên một khối u. Sợ cây bệnh, vị đại thần muốn khoét bỏ chỗ u, nhưng e ngại phạm vào không khéo, cây sẽ hư mà chết đi, phân vân chưa quyết. Ngày qua tháng lại, trên khối u nhanh chóng mọc lên một nhánh lớn cao bảy trượng, tươi tốt lạ thường, lá tròn xây thành tán dày đặc, xanh um. Vị quan thích ý, cho xây một cái đài cao bên tán mít định bụng dùng nơi này là chỗ ngơi nghỉ, cho rằng cảnh trí thù thắng ngay cả vua cũng không bằng. Nhưng sự thể tốt đẹp vượt ra ngoài ý tưởng của ông. Khi đài được xây cao lên bằng tán mít, ông leo lên nhìn vào bên trong thì thật lạ lùng, trên tán lá có cả một hồ nước trong xanh với bao nhiêu kỳ hoa dị thảo, trong ao có một bé gái nước da trắng ngần, mười phần dễ thương, ông bồng về nuôi nấng, thương yêu như con ruột của mình và đặt tên là “Nại Nữ” (Nàng Mít) . Năm lên 16, nhan sắc khuynh thành của Nại Nữ  đồn ra khắp nơi, vua Bình Sa biết được, đích thân sang cầu hôn. Đồng thời có 5 vị tiểu vương cũng vì nhan sắc của Nại Nữ, chẳng ngại trắc trở, xa giá đến nơi, mong cưới được nàng. Thấy 6 vị tiểu vương tới cùng lúc, mình chỉ có một gái. Quan đại thần liền cho xây lâu đài cao, rồi đưa con gái nuôi vào đó để tuỳ nghi kén chọn. Ông nói với sáu vị tiểu vương:
    _Nàng ấy chẳng phải con tôi, vốn từ tán mít sanh ra, nên tôi chẳng định đoạt được. Nay đưa cô ấy lên ở trên lâu đài cao để cô tự ý kén chọn.
    Bình Sa Vương nghe vậy lấy làm đắc ý, ngay đêm hôm đó, liệu cách lên đài, qua đêm cùng Nại Nữ. Hôm sau ông tuyên bố với các tiểu vương việc thành hôn của mình, họ thất vọng ra về. Vì xa xôi cách trở, Nại Nữ không theo vua được,Bình Sa Vương liền tháo vòng xuyến có vương ấn trao cho nàng và dặn:
    _Nếu như may mắn chúng ta có con, là gái thì nàng nuôi nấng; là trai thì hãy đưa vào cung cho ta với chiếc xuyến này làm tin.
    Vua từ giã về nước. Nại nữ khi ấy có mang, đủ ngày tháng sinh ra một bé trai bụ bẫm khôi ngô đặt tên là Kỳ Bà. Lúc mới chào đời, trong tay Kỳ Bà đã cầm sẵn túi kim thuốc. Năm lên tám tuổi, được mẹ cho biết nguồn cội của mình, cậu đi vào hoàng cung ra mắt vua cha. Bình Sa vương phong cho cậu làm Thái tử. Sau khi có A-xà-thế, thấy ngôi vương từ nay đã có người thừa kế, Kỳ Bà liền xin phép vua cha cho học ngành y, trao lại danh phận Thái tử cho em mình. Bình Sa vương tuy tiếc rẻ, vì Kỳ Bà thiên bẩm thông minh khó ai bì, việc nào qua mắt đều thấu đạt sâu xa và ghi nhớ   kỹ càng, nhưng thấy Kỳ Bà chẳng những không hứng thú gì với nguyên tắc trị nước, đối với mưu cơ chính trị, thao lược quân trường càng không muốn để tâm vào. Trong khi đó, hễ nói đến nghiên cứu y thuật thì  quên ăn bỏ ngủ, tợ như trời đất này chỉ có cậu và các cây thuốc cùng túi kim, dao mổ của mình! Quốc vương đành chấp nhận và vời tất cả danh y trong nước đến dạy dỗ cho con trai. Nhưng hoàng tử Kỳ Bà lúc này lại không chịu học, tối ngày cứ rong chơi. Các thầy ai cũng than thở:
    _Đại vương bảo chúng tôi đến dạy hoàng tử, nhưng nay ngài không chịu học chữ nào. Nghe rằng ngài rất ham mê y thuật, chúng tôi cho đây là lời đồn ngoa, vậy phải làm sao đây?
    Kỳ Bà đáp:
    _Không phải tôi không thích học, chỉ vì sở học của quý thầy không tương xứng, làm sao tôi học được? Quý thầy hãy xem tôi làm đây!
    Nói xong Kỳ Bà lấy kim châm vào các mạch của hình nhân một cách thành thạo khiến các danh y ngỡ ngàng thán phục. Thì ra,vốn bẩm tính thông minh, thiên tư mẫn tuệ, lại có năng khiếu vượt bậc về y học, nên chỗ hiểu biết của Kỳ Bà người thường chẳng ai sánh kịp. Các vị thầy cảm thấy không đủ tư cách dạy dỗ, cùng nhau xin vua tìm người khác hướng dẫn cho hoàng tử. Nhưng khắp nước không tìm được ai có khả năng tương xứng, từ đó Kỳ Bà tự mình nghiên cứu, thường ra ngoài thành tìm các cây thuốc xem xét dược tính, liều lượng sử dụng của nó. Có lần đang trên đường đi tìm thuốc, Kỳ Bà gặp một đứa trẻ gánh củi, chợt nhìn thấy hết lục phủ ngũ tạng của nó, cậu nghĩ thầm: “Trong gánh củi này ắt có cây thuốc chúa, tác dụng cây thuốc khiến ta nhìn ra lục phủ ngũ tạng thằng nhóc này, ta phải tìm thử, nếu có thì từ nay việc chẩn bệnh mười phần chính xác, thật hay biết mấy”. Nghĩ vâỵ, Kỳ Bà liền gọi đứa trẻ lại, hỏi mua gánh củi để tìm thuốc chúa. Quả như cậu đoán, trong gánh có một khúc củi nhỏ, khi đặt lên người nào thì thấy suốt cả lục phủ ngũ tạng. Có được cây thuốc ấy, Kỳ Bà vững lòng trong việc chẩn đoán bệnh, nhất là các bệnh nan trị cần can thiệp phẩu thuật. Tài năng phẩu thuật  của Kỳ Bà trước đây đã nổi tiếng, nay có thêm thuốc chúa trợ giúp thì danh vang càng xa, không chỉ trong tiểu quốc của Bình Sa Vương nể phục vị Hoàng tử thần y, mà tiếng tăm còn vang khắp cả Ấn Độ. Nếu Xưa, người ta rủ nhau đến Tỳ-da-ly để ngắm dung nghi của mẹ cậu, thì nay dân chúng lũ lượt dắt nhau đến Ma-kiệt-đà diện kiến Kỳ Bà muôn vạn lần nhiều hơn! Lắm khi không bệnh, họ cũng cứ đến để chiêm ngưỡng và xin thuốc, vì họ cho rằng những cây cỏ qua tay Thần y, nếu không trị bệnh cũng khiến cho họ khoẻ mạnh, hoặc tăng tuổi thọ, hoặc miễn tử! Quan niệm này xuất phát từ việc Kỳ Bà từng cứu một số người mà mạng sống của họ tưởng chừng đã nằm hẳn trong tay thần chết. Chuyện như vầy:
     Một hôm đi ngang qua nhà nọ, nghe những người trong nhà khóc than thảm thiết, Kỳ Bà bước vào hỏi thăm. Hóa ra, cô gái sắp đến ngày cưới thì bị chứng đau đầu kinh niên bộc phát chết ngay. Thấy vậy, Kỳ Bà bèn lấy cây thuốc thần đặt trên đầu cô gái, phát hiện ra một lũ sâu đang bò lúc nhúc. Không ngần ngại, cậu lấy con dao vàng mang theo mổ đầu nàng ấy bắt sâu ra, rồi vá lại, lấy thuốc cao bôi vào, hẹn ba hôm sẽ khỏi. Người nhà không tin, khóc than vật vã, cho rằng Kỳ Bà làm chuyện xúi quẩy, vì phong tục Ấn Độ lúc đó không có tẩn liệm giống như nước chúng ta ngày nay. Khi có người chết, họ chỉ để trong nhà thời gian ngắn không quá một ngày cho thân quyến viếng thăm lần chót, rồi tử thi được quấn vải đưa lên giàn thiêu hoặc đem bỏ ngoài thi lâm. Nên khi nghe Kỳ Bà bảo để “xác chết” trong nhà ba ngày chờ sống lại, họ định đánh cho một trận, nhưng vì đây là hoàng tử, có mười lá gan cũng không thể rờ đến chéo áo nữa là, thậm chí đến việc trái ý lén đem xác chết ra ngoài họ cũng không dám, đành cắn răn làm theo chỉ thị mà họ cho rằng vô cùng quái dị của hoàng tử. Không ngờ ba hôm sau, cô gái tỉnh lại bình thường. Gia đình cô gái mang thật nhiều trân bảo đến tặng Kỳ Bà để đền ơn, hoàng tử bảo:
    _Ta không thiếu thứ gì, lòng chẳng ham thích chi trân bảo, lý đáng chẳng nhận của các vị. Nhưng từ ngày xa cách mẫu thân, chưa có tin gì để mẹ được vui. Nay các vị hãy gởi quà này đến tặng cho mẹ ta, nói rằng: “Hoàng tử Kỳ Bà lòng luôn thao thức, hằng nhớ nghĩ đến người, đây là món quà mang ý nghĩa của thành công đầu đời, xin dâng lên mẹ với tất cả niềm hiếu kính!”
    Dân chúng Ma-kiệt-đà và các nước lân cận nghe việc làm ấy của Kỳ Bà, cho rằng đây là người chí nghĩa chí tình, họ sanh lòng cảm kích, ngưỡng mộ vô cùng.
     Lại một lần khác, Kỳ Bà đang nhởn nhơ dạo phố thì có một thằng bé cưỡi ngựa chạy ngang, bất ngờ con ngựa nhảy chồm lên, hất nó văng xuống đất chết tươi. Mọi người xúm lại định khiêng về nhà, Kỳ Bà liền lấy cây thuốc thần đặt lên bụng thằng bé, thấy lá gan lộn ngược về phía sau, đây là nguyên nhân khiến chú nhỏ tắc thở. Tức thời, Kỳ Bà lấy con dao vàng rạch bụng nó, sửa lá gan về chỗ cũ, thằng bé liền sống lại. Từ đó, Kỳ Bà nổi danh khắp thiên hạ về tài cải tử hoàn sanh. Luận về y thuật của Kỳ Bà, chúng ta không có tư liệu để so sánh với danh y Hoa Đà ở Trung Quốc, nhưng có lẽ cũng không thua kém gì nhau! Riêng việc Kỳ Bà nổi tiếng thần y từ hồi chín tuổi­ _ cái tuổi “hỷ mũi chưa sạch”, so với Hoa Đà thành danh vào tuổi 17 có phần đặt biệt hơn. Vì Kỳ Bà tuổi nhỏ, do đó trong việc trị bệnh cứu người, vua Bình Sa chỉ cho giúp đỡ những ai đến tận kinh thành cầu chữa chạy, ông sợ cậu ra ngoài nguy hiểm. Nhưng sau một lần thoát nạn khá đặt biệt, Bình Sa Vương đã vững tin tài trí con mình nên cho phép cậu đi khắp nơi từ phố này sang tỉnh khác để cứu giúp thiên hạ. Việc Kỳ Bà mưu trí thoát nạn được kể trong Kinh Luật dị tướng như sau:
    Khi tiếng tăm về thần y tí hon vang khắp xa gần, tin bay đến tai quốc vương nước láng giềng. Quốc vương này là vị vua thống trị các nước nhỏ, trong đó có nước Ma-kiệt-đà của Bình Sa Vương. Ông đang lâm chứng bệnh hiểm nghèo, chữa trị mãi không dứt, ba danh y đều phải bó tay. Bệnh tình trầm trọng khiến ông ta trở nên hung dữ sát hại không biết bao nhiêu ngự y, cận thần chỉ vì những việc không đâu.
    Vì thế, khi nghe tin Kỳ Bà có thể cứu sống người chết bất đắc kỳ tử, ông liền sai sứ giả đến triệu Kỳ Bà vào cung chữa bệnh. Bình Sa Vương sợ hãi lo con trai gặp nạn, còn Kỳ Bà sợ mình không đến sẽ gieo hoạ cho cha. Hai cha con ôm nhau suốt đêm không ngủ. Cuối cùng được Phật khích lệ, Kỳ bà đã lên đường sang nước ấy. Đến nơi, thoáng nhìn sắc diện tai tái, khi xanh, lúc đỏ của nhà vua, Kỳ bà cũng đoán được phần nào căn bệnh quái gở của của vị Đại vương. Qua lời xác nhận của Thái Hậu, khi mang thai, nhà vua bị nhiễm chất độc của mãng xà, Kỳ Bà nhất quyết chỉ có vị đề hồ mới có thể trị dứt chất độc đang hoành hành trong cơ thể nhà vua. Đây là một vấn đề nguy hiểm vô cùng vì chất độc mãng xà bị đề hồ khắc chế, nên khiến nhà vua rất ghét vị này, thậm chí mới nghe tên đã đùng đùng nổi giận. Phải làm cách nào để vua chịu uống thứ thuốc “đề hồ” mà ông ghét cay ghét đắng kia? Chỉ còn cách đem nó đun bốc hơi thành nước cho vua uống. Nhưng  như thế cũng chưa phải là yên ổn, vì đề hồ uống vào một lúc, hơi nhộn lên sẽ bay mùi. Vua phát giác ra mình “bị dụ” thì thần y có lẽ nát thây! Như vậy phải làm sao bảo đảm cho việc chế thuốc bí mật, dụ được vua uống, riêng mình được bảo toàn tính mạng trước khi người bệnh nổi cơn khùng!
    Nghĩ vậy Kỳ Bà yêu cầu nhà vua chấp nhận năm điều kiện trước khi điều chế thuốc:
    1.      Được mặc áo mới của vua.
    2.      Hằng ngày được ra vào tự do trong cung cấm.
    3.      Được tự do đến chỗ Thái hậu và Hoàng hậu
    4.      Nhà vua khi uống thuốc phải nín hơi, không được dừng lại thở nửa chừng
    5.      Được mượn con Thiên lý mã của vua để tiện việc đi lại
    Thoạt nghe qua, nhà vua nổi cơn thịnh nộ, quát to:
    _Thằng bé kia, mi dám yêu sách với ta hả? Mi có ý đồ gì trong năm điều đó, hãy giải thích cho rõ, nếu không ta sẽ xé xác ngươi.
    Vẻ mặt điềm tĩnh, Kỳ Bà nói:
    _Bệ hạ đừng nóng, hãy nghe tôi nói, lâu nay bệ hạ nổi tiếng là sát thủ ai cũng khiếp sợ, nhiều người ghét bỏ chờ cơ hội trả thù. Những điều ấy ư? Điều thứ nhất chiếc áo tượng trưng cho ngôi vị Hoàng đế, không ai được sờ đến mà hôm nay tôi được mặc là tôi muốn chứng tỏ cho mọi người biết niềm tin của bệ hạ đối với tôi. Thứ hai, tôi được tự do ra vào hoàng cung sẽ không trở ngại cho việc điều chế thuốc. Thứ ba, để đề phòng người ta ám hại ngầm trong lúc pha chế, thân tình nhất với bệ hạ không ai ngoài Thái hậu và Hoàng hậu. Thứ tư, thuốc chỉ có tác dụng khi nín thở uống một hơi. Điều cuối cùng, thuốc này khi uống phải có thêm một loại cỏ thơm để ngậm, cỏ đó ở rất xa, phải có ngựa quý ấy đi mới kịp.
    Nghe xong nhà vua vẫn còn giận dữ nhưng nghĩ lại Kỳ Bà chỉ là một đứa trẻ, chắc không ảnh hưởng gì, không thể thực hiện những việc tồi bại dâm loạn trong cung. Hơn nữa, nếu giết nó đi thì ai chữa bệnh cho mình. Vì vậy nhà vua đồng ý. Kỳ Bà lập tức cùng Thái hậu bí mật điều chế đề hồ. Sau 15 ngày chưng cất, đề hồ trở thành nước suối trong vắt. Giờ phút quyết định đã đến, buổi sáng trước khi dâng thuốc cho vua, Kỳ Bà đã cho người dẫn con ngựa quý ra ngã sau để chuẩn bị chạy về nước, vì cậu biết rằng khi thuốc bắt đầu tác dụng ngấm vào cơ thể, nhà vua sẽ ngửi thấy mùi đề hồ, lúc đó cậu sẽ toi mạng.
    Quả như dự đoán, trưa hôm ấy, vua ợ lên bốc mùi đề hồ. Ông ta giận dữ hét vang trời:
    _Ai cả gan đem thuốc này lên, giết kẻ ấy cho ta!
    Cận thần run lập cập, tâu:
    _Đó là Thái hậu.
    Vua giật mình, không lẽ giết mẹ sao? À, thủ phạm chính là thằng quỷ nhỏ kia.
    _Bây đâu? Hãy lập tức bắt tên xảo quyệt ấy. Không bắt được ta lấy mạng các ngươi_nhà vua giận dữ ra lệnh.
    Thị vệ chạy nháo nhào vào cung tìm kiếm, nhưng Kỳ Bà đã cao chạy xa bay. Nhà vua hạ lệnh cho kỵ sĩ đuổi theo. Người ta cảm thấy quái lạ khi vua chỉ phái một kỵ sĩ rượt theo, dĩ nhiên qua việc chế thuốc và liệu kế thoát thân, vua dư biết vị hoàng tử thần y mưu trí vô cùng lợi hại. Sở dĩ ông chỉ lệnh một người rượt đuổi bởi vì: Kỳ Bà cởi ngựa quý đã đi hơn hơn nửa buổi, cho một đàn voi ngựa tầm thường gióng trống đuổi theo e rằng chưa tới nửa đường, thằng quỷ nhỏ kia đã ngồi an ổn nơi hoàng cung của nó. Vả lại, cơ mưu như Kỳ Bà, khi biết có người đuổi theo bắt lại, khi nào bó tay chịu trói mà không bày mưu ma chước quỷ để thoát thân! Vả lại cung vua có hai vật quý, Thiên lý mã là một, vật thứ hai chính là…tên kỵ sĩ kia! Vì sao? Tên kỵ sĩ có tên là “Vạn lý túc”-đôi chân vạn dặm. Do đó với sức rượt đuổi gấp mười lần, thoáng chốc tới nơi, Kỳ Bà sẽ bất ngờ không kịp trở tay, với sức vóc trẻ con, kỵ sĩ chỉ việc tóm cổ lôi về. Nhà vua đã dự tính đúng! Kỳ Bà cưỡi ngựa đi được hơn ba ngàn dặm, sắp tới biên giới nước nhà. Chắc mẻm là mình thoát nạn, cậu ta đủng đỉnh dừng voi, leo lên sườn núi ngồi thở dốc, chợt nhớ từ sáng giờ chưa ăn gì, Kỳ Bà định lấy lương khô ra ăn thì kỵ sĩ đã xuất hiện. Kỳ Bà sợ tái mặt, kêu thầm: "phen này tiêu đời rồi!"
    Thấy cậu, kỵ sĩ nọ hùng hổ bước tới. Ra vẻ bình tĩnh, Kỳ Bà cười giả lả:
    _Này, anh chớ nên làm dữ vậy? Anh muốn bắt tôi về cũng đành thôi. Tôi vô phương thoát rồi! Nhưng từ sáng tới giờ tôi chưa ăn gì. Anh dư biết sự hung hãn của vua mình. Tôi bị đưa về ắt chết ngay không kịp kêu tên mẹ cha nữa, huống gì ăn uống. Một thầy thuốc cứu mạng cho người được trả ơn như vậy sao? Nếu anh còn chút lương tri, hãy để tôi ăn rồi bắt.
    Nói xong Kỳ Bà lấy trái cây và nước uống ra ăn. Trước tình thế bất ngờ, “Tội nhân”   không chạy cũng không kháng cự, tên kỵ sĩ nhất thời lúng túng đứng ngẩn người ra đó. Kỳ Bà đưa cho kỵ sĩ nửa miếng lê, cảnh giác, hắn từ chối. Kỵ sĩ nhìn chăm chắm Kỳ Bà sợ giở trò. Nhưng thằng nhỏ mới cắc cớ, ăn thật khoan thai và ngon lành, những miếng lê mà nó mời kỵ sĩ có vẻ rất hờ hững, như thiên hạ thường nói là “mời lơi”, anh ta sợ có thuốc độc không ăn, nó vẫn bỏ vào miệng nhai tuốt tuột chẳng uý kỵ gì. Đợi lâu uể oải, tiện tay, kỵ sĩ giằng nửa miếng lê Kỳ Bà đang ăn nhai cho đỡ chán! Nuốt miếng lê qua khỏi cổ, hắn giằng luôn ly nước trên tay hoàng tử định tu một hơi, nhưng nước chưa kịp trôi đã nghe bụng oặn thắt từng cơn, rồi hắn bị tháo dạ liên tục đến mức oằn oại, không ngóc đầu lên nổi. Kỵ sĩ nhìn Kỳ Bà lo lắng ái ngại, không lẽ nhờ thầy thuốc tội nhân chữa trị, giận mình phát bệnh không đúng chỗ, nếu thằng bé bỏ đi lúc này, ta không cách gì bắt lại. Khi đó, Kỳ Bà thản nhiên đến bên cạnh hắn nói:
    _Anh quê quá, vài hôm nữa thuốc có hiệu nghiệm nhà vua sẽ hết bệnh, còn bây giờ nếu anh bắt ta về, vua sẽ giết ta. Để thoát thân, ta đành dùng hạ sách này. Thôi anh chịu khó nằm đỡ đây nhé.
    Nói xong, Kỳ Bà đặt kỵ sĩ vào bóng mát rồi ung dung lên ngựa trở về bổn quốc trước cặp mắt ngỡ ngàng và tức giận của “Thiên lý túc”. Thì ra, trong móng tay tiểu thần y có sẵn thuốc tháo dạ, chỉ cần kỵ sĩ giật miếng lê nào, Kỳ Bà sẽ bấm mạnh móng tay vào miếng lê đó, điều này khiến “Thiên lý túc” trúng kế, nuốc gọn cả phần thuốc mà không ngờ. Khi đi ngang qua quán rượu, Kỳ Bà nhờ người đến khiêng kỵ sĩ về chăm sóc. Xử sự nhân đạo với kẻ thù hay người đã từng hại mình, điều này hiếm thấy trong thiên hạ, nhưng Kỳ Bà đã làm được, kể như là một chuyện phi thường! Hơn một ngày sau, Kỵ sĩ khỏi bệnh, vội trở về cung, lòng lo sợ phen này sẽ chết, song nếu không về thì cả nhà có thể nguy hại. Nhưng không ngờ, về tới nơi nhà vua cười hớn hở hỏi:
    _Thằng nhỏ đó đâu rồi? Có bắt được không?
    Kỵ sĩ phủ phục trước bệ rồng, không dám ngẩng đầu lên. Vua giận dữ hỏi:
    _Ngươi đã giết nó rồi ư?
    _Dạ không. Thằng nhỏ đã chạy thoát!
    Nói xong, tên lính phủ phục, chỉ chờ một trận lôi đình, rồi kết cuộc đầu rơi mà thôi!   Nhưng giây lâu nghe nhà vua thở dài nói:
    _Ta nhờ thần y mà khỏi bệnh, chưa kịp báo ơn. Nước ta không có duyên lưu thần y ở lại. Quả là nhân tài hiếm có!
    Vừa ngạc nhiên vừa mừng, kỵ sĩ đáp:
    _Phải đó, vị hoàng tử nước  ấy tài thiệt.
    Kỵ sĩ liền thuật lại cuộc đối đầu giữa mình với thần y với thái độ vô cùng nể phục.
    Nhà vua và cả triều đình cười ầm lên, không ngớt lời tán thán Kỳ Bà, một danh y tí hon đa mưu túc trí tuổi mới lên mười.Trong khi đó, tại Ma-kiệt-đà, dân chúng và quốc vương cũng không kém phần vui mừng khi hoàng tử an toàn trở về.
    Sanh thời, Kỳ Bà còn là một thầy thuốc Phật tử, hết lòng hộ trì Tăng chúng. Phàm hễ trong Chư Tăng_Ni có bệnh, đa phần nhờ đến Kỳ Bà giúp đỡ, hoặc trực tiếp điều trị, hoặc bày phương cách. Sau này, chính ông hướng dẫn A-xà-thế đến nơi Phật để sám hối tội lỗi giết cha đoạt ngôi, đồng thời giúp đỡ em mình trở thành một vị vua chân chánh. Do phước báu tạo ra lúc sanh tiền, khi chết, Kỳ Bà sanh về Đao Lợi thiên cung, hưởng thụ sự vui thù thắng vi diệu. Vì sao người ta biết được điều này? Do nơi Ngài Xá Lợi Phất. Số là vị Thánh giả này có một đệ tử  bi đau bụng kinh niên, không có thầy thuốc nào trị khỏi. “Tướng quân chánh pháp” mới nghĩ: “Ngoài Kỳ Bà, có lẽ chẳng ai trị được, nhưng thần y đã qua đời, biết phải làm sao?”. Vì muốn đệ tử khỏi bệnh, Xá Lợi Phất dùng thần thông tìm Kỳ Bà, ngài đoan chắc với phước báu đã tạo, Kỳ Bà sẽ sanh về cảnh giới thù thắng. Khi phát hiện thần y ở Đao Lợi thiên, Xá Lợi Phất liền bay đến, xa thấy Kỳ Bà đang cỡi xe báu rượt đuổi cùng các thiên nữ. Thiên tử trông thấy thánh giả, chỉ khoát tay chào rồi đi luôn. Xá Lợi Phất đuổi theo, dùng thần lực nắm xe lại, bất đắc dĩ, thiên tử Kỳ Bà xuống xe, pháp vương Xá Lợi Phất trách:
    _Ông xưa nương theo Tam Bảo tạo phước đức, chưa từng đối xử thất lễ với tăng chúng, bậc thiện tri thức phước điền của ông. Nay ta lên đến đây tìm, ông lại làm mặt lạ, không sợ tổn phước sao?
    _Xin Thánh giả lượng thứ_Kỳ Bà cười xoà trả lời Xá Lợi Phất_Tôi bản tính ham vui, nơi này bao nhiêu lạc thú, sự vui chơi cuốn hút cả tâm trí chẳng rảnh rang để tâm vào chuyện khác, đưa tay chào Thánh giả là rất vị nể tình xưa lắm rồi đó.
    Pháp vương ra chiều cảm thông, nói:
    _Thôi, tôi thật tình không muốn phiền nhiễu chi ông, ngặt vì đệ tử mang bệnh quái dị, nhân gian danh y thảy đều bó tay. Mong ông hoan hỷ  bày vẽ phương cách chữa trị.
    Kỳ Bà vừa thoát người lên xe, vừa dặn với trở lại:
    _Về bảo ông ấy nhịn ăn, để bao tử nghỉ ngơi một thời gian ắt khỏi.
    Xá Lợi Phất không tin, nhưng cũng không có cách nào khác, đành làm theo. Quả nhiên qua vài lần nhịn ăn, bệnh trạng người đệ tử thuyên giảm và hết hẳn. Sau này trong giới y học, nhất là đông y, lưu truyền phương pháp “Nhịn ăn trị bệnh”. Nhận xét về phương pháp trị bệnh này, trong quyển “Y khoa và cuộc sống”, Bác sĩ Phạm Thị Minh Dung viết: Nhịn ăn là một tác nhân chữa bệnh hay nhất của thiên nhiên…Nhịn ăn làm dịu đi, làm khuất phục dục vọng…Nhịn ăn định kỳ có thể ngừa được bệnh và tăng sức đề kháng…Nhịn ăn điều đặn làm chúng ta vô bệnh, nhẹ nhàng, tràn đầy năng lượng, xúc cảm thăng bằng, và thể nghiệm sự biến đổi sâu sắc trong cơ thể, tâm trí và tâm linh…

    8/29/2008

    HOA SEN GIỮA BỤI ÐỜI

    Mặc dù có một bà mẹ rất thuần thục trong niềm tin Phật, Nhạc Trọng, đứa con một của người mẹ góa, vẫn chơi bời lêu lổng từ tấm bé. Mẹ chàng trường trai, thờ Quan Âm Bồ Tát; nhưng chàng thì chỉ "thờ" một món rượu thịt, luôn luôn chè chén say sưa. Bà mẹ vì quá yêu con, không bao giờ cấm đoán ngăn cản chàng, hay ép buộc chàng theo đức tin của mình. Nhạc Trọng được tự do, nhưng cũng rất thương mẹ mặc dù đường ai nấy đi - có lẽ nhờ được tự do, mà chàng cành thương mẹ. Năm ấy, chàng được 30 tuổi, bà mẹ thấy mình không còn sống lâu, muốn cưới vợ cho chàng để khi yên bề gia thất, họa may chàng có bớt lêu lổng rượu chè. Bà hỏi ý, chàng cũng bằng lòng cho vừa ý mẹ. Nhưng vừa cưới vợ về được một hôm, chàng đâm chán ngấy một cách lạ lùng, và xin mẹ để cho nàng dâu về nhà, vì chàng chỉ muốn tiếp tục sự nghiệp rượu thịt mà thôi. Thấy chàng nhất quyết, bà mẹ đành chìu lòng, trả nàng dâu về với một lời xin lỗi, và rất nhiều tặng phẩm.
    Từ đó Nhạc Trọng được tự do trở lại với nghiệp ăn chơi lêu lổng cố hữu của chàng.
    Một hôm, bà mẹ ngã bệnh nặng, hấp hối vào lúc nửa khuya. Do một tiền oan nghiệp chướng gì không biết, bà bỗng dưng khao khát được nếm mùi thịt nướng trước khi nhắm mắt, mặc dù đã trường trai mấy chục năm. Trước cảnh mẹ lăn lộn trên tử sàng, đòi thịt nướng, Nhạc Trọng bèn đi ra, xẻo ngay một miếng thịt trên bắp vệ của mình, bỏ thêm tiêu hành nước mắm nướng lên đem dâng mẹ. Bà mẹ vừa được miếng thịt thấm môi thì tắt thở.
    Nhạc Trọng chôn cất mẹ xong, thì gặp lúc trong nước có lễ hội Vu Lan. Thiện nam tín nữ họp thành đoàn thể đi dự hội, cùng để chiêm bái một pho tượng Quan Âm lộ thiên mới khánh thành ở một ngôi chùa trên núi xa. Nhớ đến mẹ sinh tiền thờ Quan Âm Bồ Tát, Nhạc Trọng cũng thu xếp lên đường dự hội.
    Nhưng vì suốt đời chàng chưa từng tham gia những đám rước, cũng không hề lui tới chùa chiền, nên Phật tử không ai biết tới chàng, nghĩ chàng có lẽ là một kẻ phá đám nên không ai cho gia nhập. Nhạc Trọng phải đi lùi ra sau xa, ngoài lề đám diễn hành. Những kẻ ngoài lề ấy gồm đủ hạng: dân bán cà rem, bán hàng rong, dân ghiền xì ke ma túy, gái điệm, con mồ côi, trẻ móc túi, bụi đời... Chàng phải đi trong bọn người này theo đuôi đoàn lữ hành. Chẳng bao lâu, chàng kết nạp được một cô gái làm bạn đường, đó là một gái điếm đã chán đường ong bướm, muốn tìm đến một nơi thiêng liêng để an nghỉ tâm hồn. Cả hai kẻ bụi đời kết bạn rất tương đắc. Họ kéo nhau vào quán rượu trước sự mỉa mai khinh bỉ của mọi người trong đoàn hành hương. Nhưng hai người không để ý, cứ tự nhiên gọi rượu thịt cùng nhậu nhẹt. Trong khi họ đàm đạo, thì một đứa bé mặt mũi sáng sủa trong đám trẻ bụi đời đến chìa tay xin tiền. Thấy thằng bé kháu khỉnh, chàng hỏi con cái nhà ai thì nó bảo không biết, mẹ chết, nó đang đi tìm bà con thân thích để gởi tấm thân. Vì hy vọng trong đám hội toàn quốc này thế nào cũng gặp được bà con, nên nó có mang theo bức thư tuyệt mệnh của mẹ nó. Nói xong nó liền móc trong túi găm kỹ một bao thư đã nhàu, màu mực đã phai. Ðọc xong bức thư, Nhạc Trọng mới té ngữa người ra: thằng bé chính là con của chàng! Chàng kể sơ cho cô bạn biết câu chuyện. Nghe xong cô tình nguyện đem đứa bé về ở với hai người. Cô sẽ nuôi nó cho đến khi khôn lớn. Nhạc Trọng bằng lòng, nhưng giao hẹn trước:
    - Chúng ta có thể sống với đứa bé dưới một mái nhà, nhưng tôi yêu cầu nàng một điều là giữa chúng ta chỉ có tình bạn. Và một khi tôi uống rượu say thì xin nàng hãy lánh mặt đi chỗ khác.
    - Ðược rồi. Ðó cũng là ý nguyện của tôi. Tôi chỉ muốn nuôi đứa bé này làm phước, và ở với anh cho có bạn mà thôi.
    Sau khi thỏa thuận, họ tiếp tục cùng nhau lên đường, dắt theo đứa bé bây giờ là con của họ. Gần đến chùa chỉ có đoàn hành hương mới được vào cổng, những kẻ ngoài đoàn phải dừng bước ở bên ngoài, ăn nhờ ngủ đậu trong các quán xá ven đường. Nhưng tượng Quan Âm lộ thiên rất lớn, hai người có thể trông thấy từ đàng xa. Khi đến gần, hai người bất giác sụp lạy. Chàng đảnh lễ tượng, trong lòng thiết tha nhớ đến mẹ ngày xưa. Nàng chiêm ngưỡng nét bình an trong sáng của pho tượng với cành dương như quét sạch bao ô nhiễm sóng gió trong cuộc đời. Nàng tìm thấy một niềm bình an tuyệt đối, và bất giác rơi lệ. Khi ngẩng lên thì với chàng, trên ngàn cánh sen có ngàn hình ảnh mẹ, với nàng, ngàn ánh mắt Từ bi đang nhìn suốt tâm can: kể từ đây, đời họ được an nghỉ.
    Sau khi chiêm bái trở về, họ sống chung dưới một mái nhà. Ngày ngày cô gái, Quỳnh Hoa, dọn dẹp nhà cửa chăm sóc, dạy dỗ đứa bé, Nhạc Trọng thì vẫn tiếp tục những cuộc rượu chè, nhưng dần dần thưa thớt, và chàng trở nên trầm ngâm, ưa cô tịch. Trải qua ba mươi năm như vậy, một hôm chàng gọi Quỳnh Hoa vào phòng riêng, một cử chỉ chàng chưa từng làm, khiến nàng rất đỗi ngạc nhiên. Khi nàng vào, Nhạc Trọng lại còn vén đầu gối cho nàng xem mà nói:
    - Mẹ tôi sắp gọi tôi về. Tôi muốn cùng nàng từ biệt.
    Ở cái chỗ chàng xẻo thịt cho mẹ, mọc lên một cục thịt hình hoa sen nở. Quỳnh Hoa lấy tay bóp những cánh sen lại mà bảo:
    - Chúng ta làm bạn với nhau đã 30 năm, anh không chờ tôi được sao?
    Nói xong, nàng thu xếp trở về quê cũ, bán vườn tược nhà cửa, tậu một số vốn để lại cho đứa con của chàng cưới vợ, rồi trở lại bảo chàng:
    - Bây giờ, tôi đã làm xong công việc. Cám ơn anh đã có lòng chờ tôi. Chúng ta sẽ cùng về với Phật.
    Mỗi người vào phòng riêng, ngồi xếp bằng chắp tay niệm Phật vãng sinh cùng một lúc.

    TRƯ HÒA THƯỢNG

    Ngày xưa, ở một ngôi chùa nọ, vị thiền sư trụ trì nuôi một con heo lâu năm. Tuổi heo xấp xỉ tuổi đạo của nhà sư, và cả đại chúng kể từ vị tri sự tăng trở xuống đều phải nhường heo về khía cạnh thâm niên nọ. Do đó vị trụ trì đặt cho heo một biệt danh là Trư Hòa Thượng.
    Trư hòa thượng chỉ có việc ăn, nằm và bài tiết (để lấy phân bón cho vườn chùa) nên rất mập mạp đến không ngồi dậy nổi. Tuy nhiên mỗi khi tiếng hồng chung chùa vang lên vào chiều tối hoặc canh khuya, Trư hòa thượng đều cố ngóc đầu dậy một cách mệt mỏi. Nhân đấy mà thiền sư rất yêu mến Trư hòa thượng, thường chỉ cho chúng xem, bảo:
    - Các con thấy đó, loài súc sinh cũng có Phật tánh, chớ khinh thường.
    Một hôm thiền sư có việc phải đi xa vài hôm. Ngài cho họp chúng dặn:
    - Trong khi tôi đi vắng, lỡ Trư hòa thượng có viên tịch, thì các ông hãy cắt thịt, chia cho láng giềng mỗi nhà một miếng. Hãy nhớ làm theo lời dặn của tôi.
    Ðại chúng lấy làm quái dị về lời dặn của vị thầy, nhưng không dám hỏi, cứ vâng dạ lịnh tôn ý. Có lẽ họ nghĩ rằng thầy quá lo xa, Trư hòa thượng không bệnh hoạn gì, chưa chắc đến nỗi chết. Nhưng ngờ đâu thầy vừa đi vắng một hôm thì Trư hòa thượng ngã lăn ra chết. Ðại chúng bây giờ thật khó xử, nếu làm theo lời thầy dặn thì sợ đời dị nghị, nhất là trong khi vắng thầy. Lỡ người ta nghi chúng tăng nhân thầy không có nhà đã làm thịt con heo, rồi vì ăn không hết mà đem biếu thì sao? Thầy tri sự sau khi hội ý toàn thể đại chúng, quyết định đem mai táng Trư Hòa thượng sau vườn chùa, rồi thầy về sẽ sám hối sau.
    Khi thiền sư trở về, hỏi ra mới biết chúng không làm theo lời dặn. Ngài dạy:
    - Thế là các ông làm lỡ việc của ta rồi.
    Khi đại chúng thưa hỏi, ngài kể:
    - Trư hòa thượng chỉ còn một kiếp cuối cùng là giải thoát. Trong kiếp cuối ấy, Trư hòa thượng phải chết vì nạn "loạn đao phân thây". Nhờ có túc duyên mà Trư hòa thượng được thoát nghiệp ấy trong lúc sống. Nhưng định nghiệp không thể không trả. Do đó mà ta muốn giúp Trư hòa thượng trả xong định nghiệp bằng cách phân thây ông ta sau khi chết. Ðược vậy khỏi thọ sanh kiếp khác. Nhưng bây giờ vì các ông không làm theo lời ta, Trư hòa thượng sẽ phải luân hồi trở lại để trả cho xong định nghiệp.
    Ðại chúng nghe lời thầy dạy đều lấy làm hối hận. Ðại sư an ủi:
    - Không hề gì, rồi đây các ông lại còn duyên gặp lại Trư hòa thượng.
    Thời gian trôi qua nhanh chóng. Thấm thoát đã hơn 20 năm kể từ ngày Trư hòa thượng viên tịch. Một hôm, vị trụ trì mới, đệ tử trưởng kế vị thiền sư sau khi ngài viên tịch, tiếp đón vị quan huyện trẻ vừa tới nhậm chức tại địa phận chùa nhà. Quan đi quanh chùa thăm viếng tỏ ý lưu luyến như một cố nhân. Quan có cảm tình đặc biệt với tất cả đại chúng, và từ đấy mỗi lúc rãnh rỗi việc quan, ông lại tới chùa đàm đạo với chư tăng. Mối đạo tình đằm thắm ấy kéo dài một thời gian cho tới một ngày quan huyện bị triệu về kinh đô...
    Tin đồn quan huyện bị triệu về kinh đô vì một vụ án phản nghịch, và ngay sau đó bị đem ra chợ phân thây, được loan đi rất nhanh đến chùa. Chư tăng bàng hoàng sửng sốt, thương cho số phận quan huyện nhân từ, người bạn chí thiết của cả đại chúng. Tại sao một con người tốt như quan huyện lại phải chịu một cái chết thê thảm như vậy? Chư tăng ngậm ngùi tự hỏi. Nhất là vị trụ trì người kỳ cựu nhất ở chùa, người ngày xưa đã từng săn sóc Trư hòa thượng từ lúc tập sự xuất gia đến khi Trư chết, và bây giờ là người bạn thân của quan huyện, vị trụ trì buồn bã mất mấy ngày.
    Vào một thời tọa thiền, ngài bỗng thấy bóng quan huyện mỉm cười hòa nhã, và một âm thanh nhẹ như hơi gió thoảng bên tai ngài:
    - Tôi là Trư hòa thượng ngày xưa, xin đến vĩnh biệt thầy và tạ ơn tri ngộ.
    Vị trụ trì bàng hoàng dụi mắt, nhớ lại tất cả chuyện xưa nay.

    8/28/2008

    Hậu duệ bác Ba Phi

    Những người cháu bên bàn thờ bác Ba Phi

    Đó là những câu chuyện có thật với những nhân vật huyền thoại ở vùng rừng U Minh như bác Ba Phi "nói dóc bà cố", ông thầy "điều rắn, khiển rít", ông thợ săn hổ lừng danh... Có người đã về với tiên tổ, có người còn lặng lẽ sống, nhưng tiếng vang của họ vẫn lắng sâu trong tâm trí nhiều người dân Nam bộ.

    Loạt ký sự sẽ đưa bạn cùng tìm về gặp lại họ - những con nguời đã góp phần làm nên những câu chuyện cổ tích thời hiện đại của đất rừng phương Nam.

    "Đi tìm con cháu bác Ba Phi hả? Muốn nghe nói chuyện dóc bà cố luôn chứ gì? Ông đi có mình ên bị người ta đổ rượu chịu sao thấu", tay lái vỏ lãi ở hòn Đá Bạc, huyện Trần Văn Thời (Cà Mau) nhìn tôi cười ngang tàng, rồi ghìm chân vịt xả hết tốc lực vào cánh rừng tràm.

    Hình bóng người xưa

    Vỏ lãi tấp vô mé sông ngay trước cửa nhà ông già đệ nhất trào phúng đất Nam bộ: bác Ba Phi, tức nghệ nhân Nguyễn Long Phi (1884-1964). Căn nhà không có cửa, tấm hình lớn của ông treo trên bàn thờ chính. Tính khí phóng khoáng, vui vẻ của bác Ba Phi như hiện rõ trên vầng trán vuông vức, đôi lông mày rậm và ánh mắt nhìn thẳng sáng rực.

    Tôi vừa cắm xong nén nhang lên bàn thờ bác Ba Phi thì những người cháu của ông đang sống ở nhà kế bên cũng vừa sang. Cô cháu nội Tư Lệ nhìn tôi lom lom hỏi: "Mưa gió ngập trời, vịt bầu còn rúc đầu trong cánh ngủ. Cậu mần chi mà xuống miệt rừng rú này cho khổ thân dữ? Thôi chị em mình sơ giao làm lết lết vài xị với cá lóc nướng cho ấm bụng rồi muốn hỏi chi thì hỏi". Tôi xin ra thăm mộ bác Ba Phi trước. Nước nổi lênh láng. Mọi người phải xắn quần lội ruộng ra chòm mộ xây sau nhà.

    Dưới tán cây xanh um tùm, mộ ông nằm chính giữa. Cùng hướng đầu về phía mặt trời lặn với ông là người vợ đầu tiên, cô Ba Lữ yên nghỉ ở bên trái, và người vợ thứ tên Chăm, dân tộc Khơme, ở bên phải. Cả ba mộ đều xây ximăng thô đơn giản. Cô Tư Lệ nói hầu như năm nào những người phương xa cũng tìm về đây thăm mộ ông, trong đó có cả người ăn dầm nằm dề ở đây để viết luận án cử nhân, tiến sĩ về ông... Lúc chúng tôi quay vào nhà, con cô Tư Lệ đã nướng xong cá lóc thơm lừng. Mấy cháu chắt của bác Ba Phi vừa đi ruộng về cũng xắn quần nhào lên phản gỗ nhậu tơi bời. Họ là hậu duệ đời thứ ba, thứ tư của ông già Nam bộ.

    "Người đời biết nhiều về ông nội tui, nhưng đa số đều tam sao thất bổn. Ngay cả những câu chuyện trào phúng của ông cũng bị cải biên nhiều", cô cháu Tư Lệ năm nay vừa tròn 50 tuổi ngồi tiếp cá nướng, tâm sự về ông nội mình. Theo cô, bác Ba Phi không phải dân gốc U Minh mà sinh năm 1884 ở Đồng Tháp, rồi phiêu dạt qua trên con đường đi mần thuê vì nhà quá nghèo. Bận thanh niên, ông làm tá điền cho hương quản Tế. Thấy chàng lực điền cao lớn, râu ria khỏe mạnh, siêng năng, lại thêm tính tình vui nhộn, hương quản Tế hứa gả cô con gái cưng Ba Lữ với điều kiện ông phải ở rể trước khi cưới ba năm. Anh tá điền gật đầu cái rụp.

    Ba năm vèo trôi qua theo mấy mùa ong rừng hút hoa tràm cho mật ngọt. Vợ chồng khai phá thêm được mảnh đất U Minh Hạ, bây giờ là ấp Đường Ranh, xã Khánh Hải, huyện Trần Văn Thời. Khi bác Ba Phi mất, năng khiếu nói chuyện tiếu lâm và tính cách dường như vẫn truyền lại cho thế hệ sau, không chỉ là con cháu, mà còn "lây" sang cả những nông dân chân chất vùng Khánh Hải. Từ đó, chuyện bác Ba Phi được cải biên muôn màu muôn vẻ.

    Cười để vui sống

    Hầu hết gia cảnh con cháu bác Ba Phi đều vẫn đạm bạc như hơn nửa thế kỷ trước. Mà hình như họ cũng không mấy băn khoăn chuyện này. Cô Tư Lệ tuổi đã 50 mà trẻ như người chưa tới 40. Người chồng lớn hơn hai tuổi trông dáng dấp cũng như thanh niên. Chú Tư uống rượu cái ực, chuyển ly qua tôi rồi cười sảng khoái nói: "Vui vẻ thì quên lo. Ông nội tui xưa cũng vậy. Thiên nhiên khắc nghiệt, rồi chiến tranh, đói kém. Nếu không biết cười thì làm sao sống nổi miệt rừng rú này".

    Con cháu của bác Ba Phi bây giờ không ai dám nhận mình kế thừa số một khiếu tiếu lâm nổi tiếng của ông già Nam bộ ngày xưa. Nhưng trong bàn nhậu, ai cũng có cả mớ vốn chuyện dông dài để làm "nổ tung" cuộc hàn huyên. Trong đó chú Năm Danh, cháu lớn bác Ba Phi, được ngưỡng mộ hơn cả. Chú ở cách nhà cô Tư Lệ lô đất. Chúng tôi mới xoay vòng mấy ly thì thấy chú lò dò đội mưa sang. Cô Tư Lệ chọc liền: "Ủa, anh Năm đánh hơi nhanh hén?". Chú Năm Danh "nổ" lại: "Tại bay chứ ai. Nhậu mà hổng chịu uống nhanh, để ly ra đó cho rượu bay hơi qua tận nhà tao. Đang ngủ pho pho, tao phải hắt hơi liền ba cái đành lồm cồm bò dậy, đi ngó coi đứa nào lén đổ rượu mà không chịu mời ông già này".

    Khiếu của chú Năm Danh là biết cải biên chuyện bác Ba Phi xưa thành chuyện hài thời sự. Đang mùa dịch cúm, chú "nổ" liền chuyện: "Bầy gà nhà tui toi hết, chỉ còn mỗi con gà trống độc thân. Nó buồn quá bèn đi đêm với con cúm núm và đẻ ra một con đực nửa gà nửa chim. Con này có biệt tài hễ thấy bóng mấy ông kiểm dịch mò đến, là bay tót lên ngọn cây hót líu lo như chim. Mấy ổng vừa khuất bóng, nó lại mò xuống lủi đi tìm gà mái".

    Lứa chắt bác Ba Phi giờ chỉ rành chuyện cười của ông cố qua lời kể và sách vở. Nhưng một số người cũng còn kế thừa chút khiếu tiếu lâm. Trong đó, Nguyễn Minh Quân, con trai đầu cô Tư Lệ, hồi còn đi học đã nhiều lần quậy cười "nổ tung" cả lớp. Quân đi lao động Malaysia, bạn bè tình cờ biết là chắt bác Ba Phi, đêm đêm cứ bắt anh chế chuyện dóc cho đỡ buồn ở xứ người. Cô Tư Lệ thắp nhang lên bàn thờ bác Ba Phi rồi khấn vái: "Ông nội ơi ông nội! Ông linh thiêng phù hộ cho thằng chắt Quân nói dóc có duyên, để con gái người sớm ưng mà sinh chít nối nòi dóc bà cố của ông nội nữa!". 

    Một số câu chuyện của bác Ba Phi

    Nếp dẻo

    Gần tết năm đó, hai vợ chồng tôi quết bánh phồng thứ nếp dẻo của đất U Minh. Do tôi bổ mạnh tay, bột nếp văng lên xà nhà. Con chó mực thấy vậy liền nhảy lên táp miếng bột. Tức thì cái miệng của nó bị dính trong miếng bột ấy, toàn thân nó treo lên xà nhà như cá mắc câu. Nó la hoảng và giãy rất dữ. Cuối cùng nó rơi xuống đất nghe một cái bịch. Coi kỹ lại cái đầu của nó còn dính lại trên xà nhà.

    Cọp xay lúa

    Đêm hôm đó lúc tôi đang xay lúa, bỗng nghe hơi cọp, liền biết "ông thầy" đang rình bên ngoài. Nhờ biết trước, tôi vừa xay lúa vừa thủ thế. Quả nhiên, trong chớp mắt cọp nhào vô chụp tôi. Tôi liền né sang bên. Cọp lỡ đà vướng hai chân trước vào giằng xay. Thế là nó sa đà theo vòng quay của cái cối đang xay. Thấy vậy, tôi hối bả xúc lúa đổ vào cối. Đợi cho tới lúc cọp xay hết 20 giạ lúa, tôi liền hét lên một tiếng thật to: "Cọp"! Nó hoảng quá, đâm đầu chạy tuốt ra rừng. Từ đó về sau cọp bỏ tật bắt người ăn thịt.


    "Lão dị nhân" đất rừng

    Vợ chồng ông Chín Lẻo lúc nào cũng chuẩn bị sẵn thuốc rắn để cứu người

    “Lão trông rất cổ quái. Tóc bạc trắng cứ dựng đứng lên. Mắt đỏ khè như mắt rắn. Hai chân cụt tới đầu gối. Bàn tay cũng dị tật, ngón có ngón không. Nhưng tài trị rắn thì số một miệt U Minh”.


    Tôi được nghe nhiều người truyền tụng về thầy rắn Chín Lẻo ở U Minh (Cà Mau) như thế. Nhưng khi gặp, khác hẳn bề ngoài dễ làm con nít khóc thét, ông cứ cười khà khà: “Bộ dạng tui phải quái thì mới trị rắn độc được chứ”.

    Tầm sư học thuốc

    Suốt cả đêm mất ngủ để hút nọc và bó thuốc cho nạn nhân vừa bị rắn cắn nên mắt ông Chín Lẻo đã đỏ ngó càng đỏ dữ hơn. Ông mệt lử, ngồi đừ trên giường, kêu tôi thắp giúp nén nhang lên bàn thờ tổ trước, rồi trò chuyện sau. Ông rít thuốc, tâm sự: “Đời nay, thiên hạ đua nhau săn lùng rắn quá. Không nấu mồi ăn nhậu thì cũng ngâm làm rượu thuốc nên rắn càng lúc càng độc hơn để trả thù con người”.

    Ông Chín Lẻo nói ngay từ lúc mới học nghề thuốc đã được thầy dạy: “Không được ỷ có tài thuốc mà tàn sát rắn để chúng thù mình thì thế nào cũng đoản hậu”. “Lão dị nhân” tên thật là Lê Văn Lẻo, đời người đã trải qua 70 mùa rừng U Minh thay lá, thấy nhiều chuyện thế thái nhân tình buồn quá nên tóc bạc sớm. Riêng tật trên người thì có cái do cha sinh mẹ đẻ, có cái do bị bom napan hồi chiến tranh. Ông nói tổ tiên ông là người gốc Bắc theo nghĩa quân nhà Tây Sơn, khi triều đại ngắn ngủi này bị Nguyễn Ánh trả thù, họ phải đổi tên họ, chạy lánh nạn vào tận miệt rừng thiêng nước độc U Minh.

    Ông Chín Lẻo kể được cha mẹ cho theo thầy Út Chuẩn học thuốc trị rắn từ năm 9 tuổi. Thầy Út Chuẩn cũng là người Cà Mau, được các thầy tu núi Thất Sơn truyền thuốc từ hồi ông còn trai trẻ bôn ba kiếm sống bên miệt đó. Khi bái sư, các thầy tu núi Thất Sơn bắt đệ tử phải đốt nhang thề: “Cứu người không cầu danh lợi, không mong được đền ơn đáp nghĩa, không sợ nguy hiểm tính mạng mình”.

    Xuống núi cứu người, thầy Út Chuẩn cũng rất kén đệ tử. Ông Chín Lẻo cũng quyết tâm lắm mới được thầy đồng ý nhận làm đệ tử. Không nói ra, nhưng hình như thầy nhận thấy tính tình thật thà, hiền lành ẩn trong bề ngoài quái dị của ông. Hôm làm lễ bái sư, thầy dặn: “Rắn là loài vật âm linh. Người trị được rắn đừng cậy tài mà sa đà bắt rắn ăn nhậu hay mua bán kiếm tiền”.

    Ông Chín Lẻo nói ông không chỉ bị thầy thử mà chính các loài rắn độc cũng thử tài. Mai gầm, hổ đất, hổ mang mấy lần đang đêm bò vô tận giường mổ. Chụp ngang cổ nó, ông bỏ vô lồng đặt trước bàn thờ tổ, rồi mới tự đắp thuốc chữa trị cho mình. Khi độc tiêu hết, ông thả con rắn ra rồi quát: “Tha mạng cho mày lần này. Từ giờ về sau mày đừng ỷ có nọc mà hại người nữa”. Con rắn ngóc đầu như lạy ông, rồi lầm lũi bò đi mất.

    Nghiệp cứu người

    Chiều trước hôm tôi đến, anh Út ở xã Nguyễn Phích, huyện U Minh đi nhổ mạ, bị một con hổ đất mổ ngay bàn tay. Rắn quá độc, người nhà sợ chuyển lên bệnh viện lớn không kịp nên đến nhờ thầy Chín Lẻo. Họ chỉ biết là rắn hổ nhưng không rõ loài hổ gì. Ông nhìn qua vết cắn và triệu chứng sưng phù trên người anh Út, đó là loài hổ đất cực độc. Ông bắt anh Út nằm im, rồi dùng răng con “xà dinh” được thầy Út Chuẩn truyền lại (theo cách gọi của thầy Chín Lẻo là một loài linh vật như mèo rừng trước đây sống ở vùng núi Cấm, An Giang, bây giờ không rõ còn không) áp vào vết cắn hút nọc gần sáu giờ liền.

    Xong ông bắt con nhái bầu, kiến vàng, vỏ cây chanh, củ khoai báng, cây xương khô, mật ong và một số vị thuốc bí truyền khác giã nát cho nạn nhân uống. Đến tờ mờ sáng nạn nhân đỡ đau nhức, đàm ở họng cũng tiêu bớt. Ông nói với loài rắn bình thường chỉ cần như vậy là đủ. Nhưng với hổ đất thì nạn nhân còn phải vừa hút nọc vừa uống thêm thuốc mấy lần nữa mới dứt hẳn. 

    "Những bận trời động, gió mưa lạnh lẽo, rắn rết bò vô nhà cuộn tròn dưới gầm giường ngủ chung với người như gà. Dân U Minh phải biết "sống chung" với rắn, nếu không thì khó trụ được ở miệt đất này".

    Một đời làm thuốc rắn cứu người, danh sách bệnh nhân của ông Chín Lẻo đến nay có lẽ phải viết ra mấy cuốn vở học sinh mới hết. Ông kể mới hôm rồi ông Hai Thọ, cán bộ Lâm trường 30-4, phát cành chuối khô bị rắn hổ bướm mổ ngay cổ tay phun máu thành tia. Tuy nhiên, Hai Thọ vẫn bình tĩnh chặt đứt đôi con rắn, cầm khúc đầu chạy cầu cứu thầy Chín Lẻo. Ông ngó qua con rắn chỉ bự bằng cẳng cái nhưng đang có chửa nên rất độc, khen Hai Thọ bình tĩnh như vậy là giỏi.

    Người bị rắn cắn nếu đem được xác rắn về hay biết chính xác loại rắn cắn mình thì dễ chữa trị hơn. Ông Chín Lẻo dùng răng con “xà dinh” hút nọc cho Hai Thọ gần cả ngày và sắc thuốc bí truyền cho uống. Ngày đầu tiên Hai Thọ còn đau đớn, nhưng khoảng một tuần sau thì giảm hẳn, tay cũng không bị hoại tử. Một người đặc biệt cũng đội ơn ông đã cứu mạng nữa là Hai Tòng, nguyên chủ tịch UBND huyện U Minh và giám đốc Sở Lao động - thương binh & xã hội tỉnh Cà Mau. Ban đêm ông ra ngoài nhà bị rắn hổ đất nằm ngay trước sân mổ trúng, người nhà đưa đến cầu cứu thầy Chín Lẻo trong tình trạng đã nguy kịch. Ông phải hút nọc mấy lần vừa chế thuốc cho uống liên tục, Hai Tòng mới thoát chết.

    Ông Chín Lẻo kể đời mình đã giải nọc đủ loại rắn độc miệt đất rừng U Minh, kể cả nhiều lần phải trị nọc rắn mái gầm, đẻn biển cực độc: “Tui chữa trị những người tự tìm đến và không lấy tiền, nhưng đôi khi cũng buồn lắm. Họ sống thì đội ơn mình. Còn lỡ họ chết thì cũng bị tiếng oán chửi ngập đầu”. Đã phát tâm thề trước thầy tổ nên ông không bao giờ từ chối trước sinh mạng con người, chỉ có điều duy nhất ông ngại là phải chữa trị cho những người chuyên làm nghề bắt rắn, bán rắn. Có thể cứu họ được một lần, hai lần nhưng lần sau chưa chắc đã qua khỏi. Ông tin rắn là loài vật biết oán thù.

    Ông Chín Lẻo có con cháu đầy nhà nhưng chưa người nào quyết tâm theo nghiệp cha. Ông cũng chẳng buồn vì tin nghề chữa rắn là nghiệp định. Khi nó đến với mình, có muốn từ chối cũng không được.


    Người săn hổ cuối cùng

    Ông Tám Ảnh vẫn luôn nhớ thời U Minh "xuống sông sấu bắt, lên rừng cọp tha"

    Ở rừng U Minh ngày nay vẫn thường nghe kể chuyện những thợ săn huyền thoại ở miệt "xuống sông sấu bắt, lên rừng cọp tha" này.

    Nhiều người trong họ nay đã gối đầu về với tiên tổ. Nhưng vẫn còn một thợ săn hổ lừng danh ngày nào đang lặng lẽ sống ẩn dật với bao kỷ niệm rừng thiêng nước độc U Minh khó quên.

    Tìm lại huyền thoại

    Từ thành phố Cà Mau, tôi tìm về Hòn Đá Bạc, huyện Trần Văn Thời. Những người trẻ chạy xe ôm ở đây đều lắc đầu khi nghe tôi hỏi thăm ông Tám thợ săn. Thời họ sinh ra, rừng U Minh đã cạn kiệt lắm rồi. Bất ngờ một lão nông đang lưới cá ven sông hỏi lại: "Tìm ông Tám Ảnh đánh hổ hả? Nhà ổng ở miệt dưới xã Khánh Bình Tây. Ở đây, phải hỏi ông đánh hổ người ta mới biết, chứ hỏi thợ săn thì nhiều lắm".

    Nhà ông Tám Ảnh nằm cặp con kênh đào. Ông Tám Ảnh đang đi lấy nước, hai tay xách nhẹ nhàng hai xô 20 lít. Nếu ông không tự giới thiệu, có lẽ hiếm ai tin nổi ông đã 83 tuổi. Nghe tôi hỏi chuyện săn hổ, ông cười khà khà: "Ờ, thì hồi đó rừng U Minh vẫn còn hổ. Mình ở giữa rừng đụng nó, nếu không hạ nó thì nó cũng vồ mình".

    Ông tên thật là Tạ Văn Ảnh, được bà mụ cắt rốn chôn nhau ở huyện Ngọc Hiển. Thời trai tráng, ông đã lang bạt khắp rừng U Minh Hạ, U Minh Thượng trước khi về định cư ở xã Khánh Bình Tây, huyện Trần Văn Thời. Ông không chắc cụ cố mình có làm nghề thợ săn không, nhưng từ đời ông nội đến đời ông đều sống nhờ rừng. Tía ông từng là một thợ săn nổi tiếng ở cả miệt đất rừng U Minh.

    Ông Tám Ảnh mới 11 tuổi đã được tía tập tành cho theo săn. Tía bắt ông dầm nước đìa lạnh buổi sáng, phơi lưng trần buổi trưa để chịu đựng thiên nhiên khắc nghiệt. Tía dạy ông cách sử dụng giáo nhọn và các đường roi chiến đấu với thú dữ trong rừng.

    Những lần đi săn, tía cũng dẫn ông đi theo học cách nhận biết dấu hiệu các loài thú và bí quyết đặt bẫy. 16 tuổi, Tám Ảnh đã trở thành một thợ săn thiện nghệ. Tuổi tác tía ông dần xế bóng, ít đi săn dần. Tám Ảnh bắt đầu thay cha lo cho gia đình.

    Thuở Tám Ảnh còn trai tráng, rừng U Minh Hạ vẫn còn nhiều thú vô kể. Ông một mình một giáo bịt đầu thép dài 1,5 m với đàn chó sáu con lang thang trong rừng, cả xóm có thịt ăn. Nhiều bạn săn lớn tuổi, già nghề hơn cũng phải trọng Tám Ảnh. Ông không chỉ có nhiều ngón nghề săn bắt độc, mà còn khét tiếng gan lỳ dám đánh hạ cả hổ.

    Tám Ảnh không cố tình săn hổ. Cũng như nhiều người sống nhờ rừng khác, ông tin rừng thiêng nước độc luôn có chủ nhân của rừng núi. Và hổ lại là "chúa sơn lâm", thợ săn nên tránh nó nếu không cần thiết. Tuy nhiên, nghiệp ngày đêm lần mò trong rừng khiến ông không thể giữ được kiêng kỵ này.

    "Nhiều đêm tui vẫn nằm mơ…"

    Một buổi chiều, ông và tía thu bẫy bắt được con heo rừng. Hai tía con đang lom khom chuẩn bị xuống xuồng về nhà thì nghe một tiếng gầm ngay sau lưng. "Đụng ông hổ rồi!", tía ông la lên.

    Tám Ảnh chưa chạm trán hổ lần nào, nhưng vẫn bình tĩnh xoay người lại, hai tay thủ chắc cây giáo để tía xuống xuồng trước. Con hổ bự hơn ba giạ lúa ngồi chồm chồm cách chỉ mấy mét. Mắt nó long lên dữ tợn.

    Trong đầu Tám Ảnh văng vẳng lời tía từng dạy: "Đụng hổ phải bình tĩnh mới giữ mạng được. Phải ngó đuôi nó, nếu nó đập đuôi là chuẩn bị vồ. Nó đập đuôi qua trái thì sẽ nhảy sang phải, nếu đập đuôi bên phải thì sẽ nhảy bên trái. Mình phải nhảy ngược lại, mới tránh được cú vồ của nó”.

    Những mạch máu trong người Tám Ảnh căng lên. Lúc này, tía ông cũng đã lấy được mái dầm dưới xuồng lên phụ với cây giáo nhọn của con. Bất ngờ, con hổ rùng người đập đuôi sang trái. Tám Ảnh cũng vừa nhảy lách sang trái thì bóng con hổ đã lao ụp tới.

    Không kịp đâm nữa, Tám Ảnh xoay hông, dùng hết sức đánh đòn giáo phạt ngang như đốn cây mà tía đã từng truyền dạy. Thân cây giáo bằng gỗ quí, bự hơn nửa cổ tay Tám Ảnh lia trúng ngay cổ con hổ. Bị dính đòn hiểm, nó đau đớn rơi phịch xuống đất.

    Đàn chó săn nãy giờ thấy hổ chỉ đứng cúp đuôi, cũng nhao nhao nhào tới. Con hổ gầm lên, rồi phóng thẳng vào rừng. Tía vỗ vai Tám Ảnh khen con và dặn dò: "Từ bận này, con đi rừng phải thiệt cẩn thận. Hổ nó biết oán thù, thế nào cũng sẽ tìm con".

    Đúng ba tháng sau, con hổ này quay lại tìm Tám Ảnh thật. Lần này, ông đi rừng một mình. Đang lom khom đặt bẫy, ông ngửi thấy mùi khét. Biết có chuyện bất thường, ông xoay mặt lại hướng gió thì con hổ đã nhảy vồ đến.

    Bị bất ngờ, nhưng đã có kinh nghiệm từ lần trước, ông nhảy lách sang bên tránh kịp trong nháy mắt. Vuốt hổ sượt qua, vồ dính cái nón ông đang đội trên đầu. Vuột mồi, con hổ cay cú nhảy vồ tiếp.

    Lần này, Tám Ảnh quyết định dùng đòn hiểm để ăn thua đủ với con thú dữ này. Ông không thèm nhảy tránh nữa, mà tự té ngửa ra, hai tay cầm chặt cán giáo đâm thẳng vào cổ con hổ đang nhào lên người ông.

    Tiếng gầm khủng khiếp vang lên, một tia nước nóng gì đó phụt thẳng vào mặt Tám Ảnh. Trong nháy mắt, cổ con hổ đã bị ngọn giáo đâm xuyên thấu. Nó lồng lên một hồi rồi mới chịu nằm bất động và tắt thở.

    Tám Ảnh người đỏ máu hổ, kéo xác hổ xuống xuồng, chở về thẳng xóm. Ông cắt hết râu nó trước khi giao cho dân làng xẻ thịt, vì các thợ săn đều tin rằng râu hổ có thể chế thành thuốc độc hại người.

    Đời săn lang bạt trong các cánh rừng U Minh Hạ, U Minh Thượng của ông Tám Ảnh còn gặp hổ nhiều lần nữa. Về sau ông Tám Ảnh đi bộ đội, bị ù tai vì thủy lôi, nhưng vẫn không từ bỏ hẳn những chuyến đi săn.

    Là người cắt rốn chôn nhau ở rừng, ông tin chuyện linh thiêng ở rừng xanh. Ông đi săn chỉ vì miếng ăn hằng ngày và chia cho bạn bè, hàng xóm nghèo khó, chứ dứt khoát không bao giờ bán lấy một đồng nào.

    Mãi sau năm 1975, ông mới giã từ hẳn giáo, bẫy, ở nhà làm ruộng kiếm sống. Bây giờ, ngồi ôn lại chuyện xưa, ông Tám Ảnh lưu luyến: "Nhiều đêm tui vẫn nằm mơ thấy mình đang cùng đàn chó đi săn".

    Ông có chín người con và đàn cháu đầy nhà. Nhưng không ai nối nghiệp tía, vì luật lệ và cũng vì rừng U Minh bây giờ không còn nhiều thú nữa. Những đêm trăng đẹp, gia đình quây quần trên manh chiếu trải ngoài sân, ông Tám Ảnh lại kể cho con cháu nghe: "Ngày xưa, rừng U Minh có một người săn hổ cuối cùng …".


    Thầy đìa miệt rừng

     

    Nghe tiếng động trên bờ đìa cũng biết cá nhiều ít 

    Tay lái cá đứng nhíu mày. Anh ta có kinh nghiệm dò cá để thầu đìa, nhưng chưa thật yên tâm với cái giá thách của chủ đìa. Một thầy đìa ở xóm được mời đến, nhờ đoán giùm. Chỉ nhìn lướt qua mặt đìa, thầy đìa thọc tay rờ rờ bờ đìa chìm dưới nước, rồi áp tai xuống đất, nín thở nghe ngóng.


    Ngón nghề thầy đìa

    Chưa đầy mươi giây, thầy đìa đã đứng lên bảo đảm đìa này đầy cá, thậm chí có nhiều cá bự. Ông nói nếu đoán trật, lái bị lỗ, cứ qua đìa của ông chụp bù. Còn ông đoán trúng, chiều kiếm cho ông lít rượu đến nhậu lết lết là được rồi.

    Tay lái cá vỗ tay cái đét, rồi kêu cánh lưới thuê: “Tụi bay xuống mần liền đi, chiều trúng cá tao đãi tất cả nhậu quắc cần câu”. Đám trai quê đen nhẻm mặc quần xà lỏn nhào xuống đìa, dọn mấy nhánh chà khô và đám rong rêu. Một lát sau, cái lưới hai lớp được kéo xuống. Tay lái cá ngồi nhìn lom lom, chờ kết quả. Còn thầy đìa phì phà thuốc rê… chờ nhậu. Chưa đầy hai giờ sau, gần 400kg cá được kéo lên. Nhiều con cá lóc bự bằng bắp vế, đen trùi trũi. Tay lái cá cười khoan khoái vì thầu trúng đìa. Mâm rượu đầy ắp cá lóc nướng trui thơm nức mũi. Thầy đìa được mời bộ lòng cá ngon nhất, chép chép miệng khoái chí: “Sắp nhỏ phục sát đất ngón nghề ông già này chưa! Bận sau, tụi bay bịt mắt tao cũng đoán trúng cho mà coi”.

    Miệt rừng U Minh bây giờ không nhiều cá mú như xưa, nhưng vẫn còn những người cao tay nghề cá được người dân gọi là thầy đìa. Những ngày lang thang ở đây, tôi được ông Sáu Sử, giám đốc Lâm trường U Minh 2, giới thiệu thầy đìa Nguyễn Văn Điệt ở xã Nguyễn Phích, huyện U Minh, Cà Mau: “Gã này tài thiệt à nghen. Hồi xưa gã bắt cá thần sầu, bây giờ được bầu làm trưởng tập đoàn 19-5 nuôi hơn 500ha cá đồng dưới tán rừng”.

    Leo lên vỏ lãi, tôi lần mò đi tìm thầy đìa Năm Điệt. Tưởng còn trẻ, hóa ra ông cũng đã ngoài 60. Ông rót ly rượu đế uống cái chóc, chép miệng kể ngoài nghe tiếng động, ông còn rành vụ sờ bờ đìa để đoán cá. Người mù hay điếc cũng có thể sử dụng được ngón này. Nếu tay sờ vách đìa thấy láng thì biết có nhiều cá, vì bị chật chội, cá bơi cạ mình vô vách đìa. Còn vách đìa có những vết lỗ rỗ đều, chắc chắn có nhiều cá lớn vì chúng quậy dộng đầu vô bờ. Không ít người chưa rành nghề nhìn mặt nước đìa có cá hớp bóng dày cứ tưởng nhiều cá, nhưng thật ra lại nhiều cá trắng, ít cá đen lớn, lái bao đìa rất dễ bị lỗ.

    Ký ức về U Minh thuở khó khăn của thầy đìa Sáu Điệt là những ngày bắt cá ăn thay cơm. Bây giờ, ngồi bên bìa rừng, nhớ lại U Minh một thuở cá lội lền sông, thầy đìa Năm Điệt vẫn hào hứng với những ngày sống hoàn toàn phụ thuộc thiên nhiên. Dân miệt này có hàng trăm ngón nghề bắt cá tôm từ thông dụng cắm câu, giăng lưới, đặt lờ, đặt trúm, chất chà, đóng đáy, đến những cách bắt cá đòi hỏi nhiều kinh nghiệm hơn như đâm chĩa, giậm dấu, đào hầm cá nhảy, chặn ụ…

    Thuở ấy, người dân U Minh nào vừa rành bí quyết dò cá vừa thạo các ngón bắt cá này, bảo đảm kiếm cá ăn không hết mà phơi khô cũng không kịp. Thầy đìa Năm Điệt thời trai trẻ chỉ cần nhìn qua mặt nước sông cũng biết cá nhiều ít. Bạn phương xa đến rủ lai rai, không kịp đào mồi giăng câu, thả lưới; ông chỉ lựa con nước ròng đoán luồng cá đi để nhảy xuống sông giậm chân vài chục cái, rồi rít xong điếu thuốc nhảy xuống mò lại ngay chỗ dấu chân đó cũng dư cá nhậu quắc cần câu. 

    Những thầy đìa cuối cùng 

    Thầy đìa Năm Điệt vào vùng cá nuôi ở U Minh Hạ - Ảnh: Q.Việt

    Thầy đìa Năm Điệt sinh ở rừng U Minh. Nhà có tám anh em đều rành rẽ nghề cá như thuộc lòng các ngón tay. Đặc biệt, người em Sáu Tặng cũng “thần sầu” trong các ngón dò cá. Giống như người anh, ông có thể không lại gần đìa mà đứng ngó từ xa cũng biết đìa ít hay nhiều cá. Sáu người con của ông Sáu Tặng tiếp nối nghề cha, lấy tài bắt cá mưu sinh.

    Đất rừng U Minh bây giờ không còn giàu cá mú, các thầy đìa giỏi nghề dò cá tự nhiên xưa đang chuyển kinh nghiệm sang nuôi cá độc đáo của riêng mình. Dẫn tôi đi thăm bãi nuôi cá dưới tán rừng, anh em ông Năm Điệt, Sáu Tặng tiết lộ ngón nghề nuôi cá. Ông Sáu Tặng nói bí quyết đầu tiên là chọn thế đìa phải tránh được nắng mặt trời rọi xuôi suốt ngày, nếu không cá sẽ chậm lớn. Ngoài ra, địa thế này cũng phải tránh hướng gió bấc thổi dọc đìa. Nhìn tôi trố mắt, ông Năm Điệt cười khà khà: “Thì cũng giống người mà. Điều gì người dễ chịu thì cá cũng ưng. Giữa rừng rú mà còn gió lạnh suốt ngày làm sao thấu”.

    Ông tiết lộ ngón nghề ít người biết nữa là đào đìa ở miệt này phải chọn gò cao hơn xung quanh. Nhiều người vùng trên xuống đầu tư nuôi cá, không rành cứ nhè chỗ thấp đào đìa để dễ lấy nước, rồi hứng phèn đọng. Cá không nổ mắt chết vì phèn nặng thì cũng còi cọc. Miệt này qui mô một cái đìa khoảng ngang 4m, dài 36m là trung bình, dễ lựa loại cá nuôi và cũng dễ thu hoạch. Ông nói dân đất rừng U Minh mỗi lần động thổ đào đìa hay thu hoạch cá thường sắm lễ cúng rất trang trọng: “Tụi tui tin đất đai có thổ địa, núi rừng có sơn thần. Mình thành tâm cúng mấy ổng thì mấy ổng cũng phù hộ mình”.

    Buổi chiều, ngồi nhìn con nước rong lé đé bờ sông, gương mặt hằn dấu tuổi tác của anh em thầy đìa Năm Điệt, Sáu Tặng chợt trở buồn khi thấy những thanh niên đang vác xuyệc điện đi bắt cá. Họ trầm giọng tâm sự kinh nghiệm dò cá, bắt cá tự nhiên miệt đất rừng U Minh dần mai một vì của trời cho này đang cạn kiệt rất nhanh. Theo ông Năm Điệt, ngoài khách quan còn có con người. Những cách đánh bắt tham lam như xuyệc điện hiện nay và nông nghiệp ngày càng phải sử dụng nhiều phân bón hóa học, thuốc trừ sâu đã làm cho cá tự nhiên mất dần môi trường sống.

    Bóng tối chập choạng đổ dần xuống vạt rừng U Minh. Không gian tĩnh lặng, chỉ có tiếng chao chát của chim bay về tổ. Nhìn nét mặt trầm tư của hai ông già U Minh, tôi cảm nhận được nỗi niềm của họ.


    Đoàn Phong Ngạn

    Về U Minh, tôi lân la hỏi chuyện ông tổ gác kèo ong xứ này nhưng chẳng mấy người rành rẽ. Những lão nông tri điền 70-80 tuổi tóc bạc phơ cũng chỉ có thể kể khi họ mới biết lẫm chẫm chạy đã thấy tía, ông cầm bùi nhùi vào rừng "ăn" ong rồi. Nghề gác kèo, "ăn" ong xưa cũ bây giờ vẫn đang phát triển mạnh ở rừng U Minh, người ta thường đặt tên cho những người làm nghề này là "đoàn Phong Ngạn".

    Một lần "ăn" ong 

    Những người gác kèo ong rủ tôi lội rừng. Chiếc vỏ lãi chở bốn rẽ nước vượt qua mấy con kênh đào nhỏ dày đặc rong rêu và lục bình, tiến sâu vào rốn rừng ở xã Khánh Hòa, huyện U Minh, Cà Mau. Đây là chuyến đi lấy mật ong định kỳ của tía con ông Nguyễn Thanh Rớt (Hai Rớt) nên họ chuẩn bị khá kỹ. Người nào cũng mặc áo dài tay dày cộp, lại thêm tấm lưới khít mắt chùm hụp trên đầu và bó bùi nhùi cầm tay.

    Tàng ong đầu tiên mà chúng tôi gặp nằm trên cây tràm kèo nghiêng nghiêng cách mặt nước dưới chân chưa tới 2m. Tía con Hai Rớt chuẩn bị châm lửa ngọn bùi nhùi. Để bảo vệ rừng, họ có kỹ thuật làm bùi nhùi khá giản đơn nhưng lại độc đáo: lấy mấy nhánh chà khô nhỏ cột thành bó trong lõi, bên ngoài phủ thêm một lớp nhánh lá tràm tươi rói.

    Khi đốt cháy, lửa chỉ âm ỉ ở trong lõi, tỏa khói ra, chính lá tràm non vừa tạo thêm khói vừa có chức năng bảo vệ bên ngoài không cho tàn lửa bay tứ tán theo gió có thể gây cháy rừng.

    Ra dấu tôi lùi lại, Hai Rớt phù miệng thổi phà khói vào tàng ong. Chưa đầy vài giây, ong bay túa ra khỏi tổ, vạt rừng đang tĩnh lặng chợt náo động bởi tiếng ong vỡ tổ bay o o mù mịt trời. Hai Rớt vẫn bình thản giữa "vòng vây thù hận" của bầy ong. Hạ kèo tràm xuống, ông lấy dao mang theo người cắt gọn một phần tàng ong đầy mật. Ông mời tôi nhấm nháp một mẩu tàng ong non ngay giữa rừng mà không phải người thành phố nào cũng được thưởng thức.

    Mật tươi rói, ngọt lịm tứa ra môi. Tía con Hai Rớt vui vẻ nói: "Nó là thuốc chống già của dân miệt rừng này đó. Uống không hay pha với nước ấm, rượu, trà đều ngon bổ". Sau đó cây kèo tràm và phần tàng ong còn lại được gác về chỗ cũ để đàn ong vỡ tổ tiếp tục quay về làm tổ.

    Ba giờ chiều, chiếc vỏ lãi quay ngược mũi về nhà. Tía con Hai Rớt thu hoạch được hơn 30 lít mật ong. Họ nói lượng mật này là ít vì mùa mưa năm nay dầm dề quá, ong phải tích đủ mật để nuôi con. Nhưng họ vẫn vui vẻ đợi nắng lên sẽ khá hơn như bao đời cha ông đã sống chết với rừng.

    Đời gác kèo

    Ở U Minh hiện nay không ai có thể biết dưới tán rừng đang có bao nhiêu người làm nghề gác kèo ong. Nhưng có một điều dám chắc rằng dân miệt này rành rẽ các bí quyết gác kèo ong lấy mật không thua kém bất cứ vùng nào. Hai Rớt năm nay đã ngoài 50 tuổi, trong một gia đình ít nhất đã có bốn đời sinh sống ngay trên thửa đất ông đang ở giữa rừng U Minh Hạ.

     

    Mật ong nguyên chất, “thuốc chống già” của dân gác kèo

     

    Bận nhỏ Hai Rớt tóc còn để chỏm đã biết chèo xuồng theo ông nội tập tành gác kèo. Chưa đầy 16 tuổi ông đã rành nghề rừng này. Đời con lại nối nghiệp tía. Ba người con Nguyễn Thanh Đề, Nguyễn Thanh Trung, Nguyễn Châu Phi hiện cũng thạo ngón nghề gác kèo ong rừng. Hai Rớt được chòm xóm tin tưởng bầu làm trưởng Tập đoàn Phong Ngạn 2 ở huyện U Minh với 29 tập đoàn viên.

    Hai Rớt ngồi ngắm chiều vàng loang bóng trên mặt sông và chân chất trải lòng mình: "Điều quan trọng nhất với người gác kèo ong là phải bảo vệ rừng. Không chỉ biết quấn bùi nhùi ít tàn lửa, biết lựa hướng gió xông khói mà còn kiềm chế say xỉn trong lúc đi rừng để đừng vô tình gây cháy".

    Anh Lê Văn Kháng, bạn xóm cùng Tập đoàn Phong Ngạn với Hai Rớt, nói gác kèo ong lấy mật là ăn của trời đất, nhưng cũng phải đòi hỏi người nhiều kinh nghiệm mới làm được.

    Nhiều người tưởng rừng già, rậm rịt bóng râm là nhiều ong. Trái lại, khí hậu vùng đó lạnh lẽo, ong ít về làm tổ. "Mới nhìn qua kèo nào cũng giống kèo nào. Nhưng thiệt lạ, người thì thu mật đậm, người chẳng có gì” - anh Kháng nói.

    Anh Kháng trầm giọng tâm sự ngoài kinh nghiệm con người, còn có cái gì đó thuộc rừng thiêng khó lý giải. Mỗi năm, người gác kèo ong đều có một lễ cúng rừng rất trang nghiêm, thường được bày ở ngay gần kèo ong lớn nhất rừng được xem như là "chính điện" của ong chúa.

    Mỗi người gác kèo đều có những lời thề trong tâm như không bao giờ phá rừng, đốt rừng, không hủy tổ, tàn sát các loài ong nếu không thật sự cần thiết vì cuộc sống.

    Những ngày theo chân đoàn Phong Ngạn lang thang dưới tán rừng, tôi chưa thấy một người nào giàu được bằng nghề gác kèo ong. Tía con Hai Rớt đang có hơn 300 kèo lấy mật trong tiểu khu 25, Lâm ngư trường U Minh 2.

    Đó là nguồn thu nhập chính trang trải chuyện áo cơm, học hành trong gia đình mấy thế hệ. Cha con anh Kháng cũng đang gác khoảng 200 kèo. Giá mật bán tại rừng 30.000 đồng/lít, anh Kháng tâm sự tạm đủ sống nếu hết sức tằn tiện.

    Chở tôi ra bìa rừng trên dòng sông rực rỡ hoa tràm để về thành phố, những người gác kèo ong miên man tâm sự sẽ không giã từ nghề dù khó khăn. Họ chỉ lo mai này rừng U Minh cạn kiệt dần, ong có còn đem mật ngọt về cho người nữa hay không?


    8/27/2008

    KHÔNG RƯỢU MÀ SAY - Phong Kiến Đại Sư

    Vào một buồi chiều tịnh mịch ở Kỳ viên tinh xá, sau khi giảng pháp cho chư tăng và cư sĩ khắp nơi tụ về, Ðức Thế tôn vào Hương thất an nghỉ. Vừa đặt lưng xuống, Ngài bỗng nghe tiếng đập cửa thình thịch và tiếng khè khè của một gã say rượu thừa lúc cổng mở, đã lẻn vào tinh xá. Hắn vừa đập cửa vừa gọi:
    - Ông Phật đi, ông Phật! Cho tui làm Phật với! Tui cũng muốn ... làm Phật! Khà khà! Bộ chỉ mình ông làm Phật được mà thôi à? Há?
    Ðức Thế tôn ngồi dậy ra mở chốt. Thấy gã say dơ dáy, y phục tả tơi, Ngài động lòng trắc ẩn gọi thị giả A Nan:
    - Này, A Nan, ông tắm rửa, cạo tóc và cho nó một cái y sạch. Rồi tìm chỗ cho nó nằm nghỉ.
    A Nan vâng lệnh. Sau khi tắm rửa sạch sẽ, cạo tóc đắp y, gã say được đưa đến một gốc cây im mát trong tinh xá. Gã đánh một giấc ngon lành cho đến sáng hôm sau. Khi tỉnh dậy, hắn bỡ ngỡ nhìn quanh thấy toàn thầy tu mặc áo vàng đi bách bộ, dòm lại mình cũng đang đắp y, sờ đầu nghe trụi lũi, hắn kinh hoàng không biết mình là ai, vội vàng bỏ chạy một mạch ra phía cổng. Các tỳ kheo đuổi theo bắt lại. Nhưng một số khác biết chuyện, ngăn bạn:
    - Này, chư hiền, để cho hắn chạy. Hắn chỉ là một gã say, hôm qua Thế tôn bảo tôn giả A Nan tắm rửa cạo tóc đắp y vào cho hắn đấy.
    - Thật Thế sao? Tại sao đức Thế tôn làm chuyện lạ nhỉ? Biết hắn say mà vẫn độ cho hắn xuất gia?
    - Hãy để hắn đi cho khuất, rồi chúng ta sẽ đến thỉnh giáo đức Thế tôn về việc này.
    Thế là họ kéo nhau đến Hương thất đức Phật, bạch hỏi:
    - Bạch đức Thế tôn, chúng con không hiểu vì nguyên nhân gì Ngài lại độ cho một gã say như thế? Xin Ðấng Thiện Thế giải rõ cho chúng con.
    - Này các tỳ kheo, các ông dường như trách ta vì đã độ cho một gã say. Nhưng ta hỏi các ông, trong lúc hắn say, tại sao không cầu chuyện gì khác, mà lại cầu làm Phật? Như thế là hắn đã gieo một cái nhân tốt đẹp, ta phải giúp duyên cho hắn, vì ta không hẹp gì mà không cho hắn làm Phật. Vả lại, có bao nhiêu người "tỉnh" biết cầu làm Phật như hắn? Vậy thì ai tỉnh, ai say? Huống chi, hắn có nhậu rượu vào mà say, thì bất quá chỉ say vài tiếng đồng hồ rồi tỉnh lại. Cho nên, bệnh say của hắn, ta không cho là trầm trọng. Trái lại, biết bao kẻ trên thế gian này, dù không uống rượu mà vẫn say, không phải say vài tiếng đồng hồ như hắn, mà say muôn kiếp ngàn đời chưa tỉnh. Cái bệnh say đó, say trong vô minh ái dục, Ta mới gọi là một chứng bệnh trầm kha!

    TRÁI TIM CỦA MẸ - VẠN KIM BÔI

    Ngày xưa, có một cậu bé ở với mẹ trong một túp lều ven rừng. Ngày ngày cậu đi vào rừng hái củi bán để nuôi mẹ. Mẹ cậu ở nhà nấu cơm, vá áo, chăm sóc những luống rau. Hai mẹ con sống nghèo nàn hẩm hút, nhưng không kém vẻ đầm ấm, bởi vì tình thương của mẹ vốn đã là điều kiện cần và đủ cho một con người.
    Nhưng cậu bé lớn dần và bắt đầu đi xa hơn trong những buổi kiếm củi. Hồn cậu cũng bay xa hơn trong những mộng ước, mong chờ. Cho đến một chiều nọ, trên đường hái củi cậu bắt gặp một bóng hồng thiếu nữ bên suối biếc. Kể từ hôm ấy, bát cơm nguội trên tay mẹ âu yếm đưa cho cậu ăn đỡ đói lòng mỗi khi trở về, không còn hương vị nữa. Cậu bắt đầu tiếc nhớ bâng khuâng, người trở nên thờ thẫn, mất hồn. Bà mẹ lo lắng hỏi han, cậu gắt gỏng với mẹ. Tình yêu hay đúng hơn, sự mê gái, đã làm cậu lú lẫn mê muội rồi. Mẹ càng chăm sóc ân cần, cậu càng khó chịu, muốn bỏ nhà ra đi... theo bóng hồng bên suối biếc.
    Ối, phải chăng nàng là tiên nữ giáng trần? Cậu cảm như chưa bao giờ thấy một người con gái đẹp đến thế. Mỗi đáng vẻ, động tác của nàng đều làm cho cậu mê mẩn tâm thần:
     
    Trúc xinh trúc mọc bờ ao
    Em xinh, em đứng chỗ nào cũng xinh.
     
    Huống chi nàng lại đứng bên bờ suối phận chiếu ánh trời chiều long lanh với muôn màu sắc: màu xanh của mây, màu vàng, đỏ, tím của hoa rừng, màu lục biếc của cây lá ...Giữa thiên nhiên kỳ tuyệt ấy, nàng nổi bật như một đóa hoa vương giả khoe tươi.
    "Thầm yêu trộm nhớ bấy lâu đã chồn"... Thanh niên đánh bạo đến gần người đẹp. Thiếu nữ vừa trông thấy cậu đã khóc òa:
    - Chàng ôi! Thiếp không còn sống được bao lâu nữa nếu ....
    Giọng oanh vàng nấc nghẹn. Thanh niên hỏi dồn:
    - Tại sao, tại sao, nàng hỡi! Tôi sẽ làm bất cứ gì để đem lại sự sống cho nàng, dù có phải mất mạng.
    Thiếu nữ mở lớn đôi mắt bồ câu xinh:
    - Thật không, ồ xin chàng hãy cứu thiếp! Thiếp đau bệnh nan y, thầy thuốc bảo chỉ có nuốt vào mình trái tim nóng hổi của một người mới tắt thở, họa may hết bệnh. Nếu chàng cứu thiếp, thiếp xin hứa sẽ trọn đời sửa túi nâng khăn.
    - Xin nàng hãy đứng chờ.
    Thanh niên chạy như bay một mạch về túp lều. Bà mẹ tựa cửa trông con, trong chỗ tranh sáng tranh tối, cậu va cái cốc vào đầu mẹ. Tiến thể, cậu rút ngay con dao ở vách lều, thọc vào ngực bà, moi ra trái tim còn nóng hổi. Cậu bưng trái tim mẹ hối hả chạy ngược trở lại bờ suối.
    Mặt trời đã lặn khuất sau đồi. Bóng lá cây đen dầy che rợp lối đi. Ba bốn lần cậu suýt vấp ngã vì vội vàng hấp tập. Bỗng nghe một tiếng nói hiền từ đâu đây vọng lại:
    - Con ơi, chạy chậm bước lại kẻo té, con ạ!
    Cậu giật mình đứng lại ngơ ngác nhìn quanh. Nhưng cậu chợt hiểu. Thì ra tiếng nói kia vang lên từ trong hai lòng tay cậu, từ TRÁI TIM CỦA MẸ!

    Gã làm thuê

    Gã ngồi tựa vào gốc cây xà cừ nhìn đường phố. Đang giờ người ta đi làm, đường phố đông nghẹt người. Mà sao bây giờ họ lắm tiền nhiều của thế, xe máy ô tô ken vào nhau nghẽn tắc cả đường. Toàn là loại xe sang trọng. Ô tô xịn, xe máy cũng toàn loại xịn và đắt tiền.

    Nghe nói những cái xe máy bọn choai choai đang cưỡi kia, có cái đến cả trăm triệu đồng, đời gã có nằm mơ cũng chả bao giờ dám mơ tới. Gã chỉ ước gì mua được một các xe đạp tốt cho con gái đi học. Gia tài đáng giá nhất nhà gã chính là chiếc xe đạp sét gỉ gã đang dựa ở gốc cây này. Cái xe mà khi còn ở quê, buổi sáng con gái dùng đi học, buổi chiều gã dùng đi thồ gạch. Bánh xe được gia cố thêm mấy thanh sắt làm nan hoa để khi chở nặng khỏi bị gãy vành. Khi lên thành phố làm thuê, gã đem theo cái xe đạp để chuyên chở đất thải, con gái gã phải đi bộ tới lớp.

    Từ nhà tới chỗ nó học cũng phải gần bốn cây số... Gã chợt thấy đói cồn cào. Từ hôm qua đến giờ gã chưa có gì cho vào cái bụng lép kẹp. Tối hôm qua lẽ ra thì gã đã có một bữa ngon lành. Bởi mấy ngày vừa rồi gã “may mắn” được một ông thuê phá dỡ hai gian nhà cấp bốn. Đây là mấy gian nhà ông này làm cho mẹ ở. Khi bà cụ mất, ông ta liền phá đi. Gã được ông ta thuê đến thuê phá dỡ, giải phóng mặt bằng lấy để làm nơi treo hoa phong lan và bày cây cảnh.

    Gã biết, ông này là một cán bộ cấp bự. Làm quan to nên ông đón mẹ từ quê lên phụng dưỡng. Bà mẹ già mắt mờ, chân chậm, lại vốn dĩ là nông dân tần tảo vất vả cả đời nên về già ốm yếu, bệnh tật. Bà cụ sinh hạ được mỗi ông ta là con duy nhất. Chồng chết, cụ ở vậy nuôi con, lần hồi sới đất lật cỏ kiếm từng xu từng hào cho ông ăn học nên người, lam quan chức to nhất vùng. Dân làng thấy ông đánh ôtô về đón mẹ lên thành phố, ai cũng trầm trồ khen ông có hiếu. Bà hàng xóm cứ nức nở mãi: “Thế mới đáng là con cái chứ! Đúng là đẻ con khôn mát... rười rượi, chả bù mấy thằng giặc nhà tôi phá gia chi tử...” Ông bán hết nhà cửa, ruộng vườn rồi đưa mẹ ra đi trong sự thán phục của cả làng.

    Lên Hà Nội, bà cụ vẫn quen lối sống tùy tiện thoải mái như ở quê. Bà cụ nhai trầu bỏm bẻm suốt ngày. Nước cốt trầu vương vãi trên salon, và nền phòng khách được lát bằng gỗ quý khiến vợ ông rất khó chịu. Bà vợ ông càng bực bội mặt nặng, mày nhẹ mỗi khi ăn uống cụ làm rơi vung vãi cơm, đổ cả canh ra bàn ăn. Ông cán bộ nọ cũng nhiều phen phát bực vì bà cụ làm cho phát ngượng do mấy lần có khách hỏi thăm, cụ cứ rỉ rả kể lại mãi chuyện quê, chuyện ngày xửa ngày xưa nuôi con vất vả, chuyện ông bíếng học hay chơi bời lêu lổng.

    Có lần ông đã quát mẹ khi khách vừa mới ra khỏi cửa khiến bà cụ tủi thân cứ sụt sịt mãi. Còn bà con dâu và thằng cháu đích tôn thì thường xuyên trì triết, hạch sách mỗi khi cụ làm đổ nước hay rớt bã trầu ra sàn nhà. Bà cụ buồn lắm. Suốt ngày lầm lì như cái bóng trong căn biệt thự sang trọng. Khi con cháu đi vắng, cụ muốn mở tivi nghe dân ca cho đỡ buồn. Nhưng con dâu sợ làm hỏng tivi nên đã rút mất phích điện. Giá như còn ở quê, cụ sẽ sang nhà bà hàng xóm cùng nhau giã trầu hay tuốt rơm nếp để tết chổi. Còn ở đây giữa chốn nhà cao cửa rộng nhưng cổng khóa, then cài, cụ như bị giam lỏng. Bà cụ muốn trở về quê nhưng đâu còn nhà cửa mà về.

    Một lần cụ bảo: “Hay cho mẹ về quê, ở đây mẹ thấy không hợp!” Ông con trai đã gạt đi: “Mẹ về quê thì ở vào đâu, nhà đã bán mất rồi!” Còn bà con dâu nói mát: “Sướng lại chả muốn!” Thằng cháu đích tôn thì lấc cấc: “Cụ về quê lấy ai khuya sớm phụng dưỡng tuổi già!” Mặc dù từ ngày đón mẹ ra ở cùng bao nhiêu phiền nhiễu nhưng con trai, con dâu chẳng bao giờ muốn cho mẹ về quê. Với họ không phải vì đã trót bán mất ngôi nhà của tổ tiên để lại. Chỉ cần vài ba chục triệu là họ thừa sức mua đất và làm cho mẹ căn nhà khác ở quê. Nhưng họ còn mặt mũi nào. Đã được tiếng là hiếu thuận thì phải giữ chứ với lại còn uy tín của ông, của bà trước cơ quan nữa.

    Thời buổi này cái ghế của ông không ít kẻ nhòm ngó, sơ sảy một tý, sụt giảm uy tín một chút là hỏng ngay. Hơn nữa để bà cụ ở Hà Nội cũng có thêm một nguồn thu đáng kể. ấy là khi tổ chức mừng thọ cho cụ, dịp tết nhất và cả những khi cụ trái gió trở trời ốm đau anh em trong cơ quan, những người được ông bà nâng đỡ sẽ đến chúc mừng, hay thăm hỏi và đều có quà cáp. Quà thì đâu chỉ có cân đường, hộp sữa, nải chuối hay chục trứng gà như ở quê mà là phong bì dày cộp trong để toàn tiền mệnh giá lớn hoặc đôla.

    Khi thấy để mẹ ở nhà trên gây nhiều phiền phức, ông bàn với vợ làm hai gian nhà cấp bốn ra góc vườn đưa bà xuống đấy ở. Bà vợ ông sốt sắng đồng ý ngay. Thế là bà cụ chỉ còn được lên nhà trên mỗi khi mừng thọ hoặc ngày tết và lúc nào đau ốm để cho mọi người trong cơ quan con trai con dâu đến chúc mừng, hoặc thăm hỏi. Những người đến thăm hỏi, chúc mừng bà cụ chẳng qua chỉ là cái cớ. Họ đến để cống nộp là chính.

    Bà cụ đã trút hơi thở cuối cùng vào một đêm mưa gió trong ngôi nhà cấp bốn ẩm thấp nơi góc vườn. Ngay trong đêm, thi hài cụ đã được di chuyển đến quàn trong phòng lạnh của một nhà tang lễ lớn nhất thành phố. Tại đây cụ được tổ chức tang lễ thật trọng thể. Có rất nhiều đoàn đến viếng. Người làng trong đoàn của địa phương lên dự lễ tang ai cũng nể phục. Vòng hoa nhiều vô kể, không thể đếm nổi. Chẳng có kèn trống như ở quê. Không có các vị sư sãi, các vãi già đến đọc kinh, chèo đò để người chết được siêu thoát được sang Tây Thiên với Phật. Quan tài cụ được xe tang đưa thẳng ra đài hóa thân hoàn vũ, ấn nhẹ công tắc điện một cái là đã thành mây khói, chút tro cốt còn lại được cho vào lọ. Thế là xong. Việc này chắc khi con sống bà cụ đã từng nghĩ đến. Cụ sợ lắm. Cụ rất muốn về quê có chết thì về với ông bà ông vải gặp lại mấy bà bạn cùng tuổi đã đi trước nhưng ông con thì không chịu.

    Sau đám tang, ông con trai nghĩ ngay đến số tiền phúng viếng, nhẩm tính sơ sơ cũng đủ mua một cái xe ôtô mới tương đối xịn. Và việc ông phải làm đầu tiên là cho phá ngay căn nhà cấp bốn góc vườn. Gã làm thuê được gọi đến. Biết sự tích của căn nhà, gã cũng thấy bùi ngùi.

    * * *

    Gã làm thuê bắt đầu phá dỡ dần từng phần căn nhà cấp bốn. Gã cố để lại một góc để ở tạm mấy hôm. Vì buổi tối gã mới có thể thu dọn đống vôi vữa, gạch vụn rồi dùng xe đạp thồ chở ra đổ trộm ngoài bờ đê. Ban ngày mà chuyên chở những thứ này thì sẽ bị công an tóm ngay, với lại muốn đổ trộm những thứ phế thải ra bất cứ chỗ nào cũng đều phải đợi khi đêm đến. Ông chủ nhà dặn gã làm ăn phải cẩn thận kẻo ảnh hưởng đến ông ta. Gã vâng vâng dạ dạ để ông ta yên tâm.

    Sau khi phá nốt góc căn nhà cấp bốn, nơi mấy đêm vừa rồi gã chừa lại lấy chỗ ngả lưng sau những chuyến chở phế thải đi đổ ngoài bờ đê, gã rụt rè lên phòng khách ngôi căn biệt thự gặp ông chủ. Nhìn nền gạch hoa và gỗ bóng loáng gã cứ xoa mãi hai bàn chân mà không dám bước vào. Ông chủ nhà hất hàm hỏi:

    - Đã xong xuôi cả chưa?

    - Thưa bác chỉ còn một xe đất thải cuối cùng tối nay cháu sẽ chở đi và xin phép bác đi luôn ạ!

    - Vậy thanh toán tiền công hả?

    - Vâng! Nhưng cháu cũng có việc xin báo với bác...

    Gã vừa nói vừa móc trong túi cái quần bộ đội cũ ra một gói ni lông được chằng buộc bằng những cái dây chun rất kỹ đưa cho ông chủ nhà.

    - Cái gì đây?

    - Dạ! Cháu tìm thấy nó khi phá chỗ góc nhà lúc chiều. Chắc là của bà cụ cất giấu. Là vàng và tiền ạ...

    - V...à...n...g... h...ả...?

    Ông ta gần như giật phắt cái gói từ tay gã nhanh như một con chim cắt chộp mồi. Chẳng nề hà cái gói ni lông đầy bụi bẩn và dính nước cốt trầu đen xỉn. Ông lập cập mở ra. Trong gói có một đôi hoa tai, một cái nhẫn vàng và một cuộn toàn tiền lẻ độ vài trăm nghìn đồng. Nhưng lại có hai tờ một trăm đôla cuộn bên ngoài. Đây chắc là của người nào đó mừng tuổi bà cụ hôm tết mà ông không biết để thu hồi. Ông hất hàm hỏi gã làm thuê:

    - Chỉ có thế này thôi à?

    - Vâng ạ!

    - Có đúng thế không?

    Gã làm thuê thấy mình bị xúc phạm. Gã khinh bỉ nhìn ông chủ nhà. Gã đã quá thật thà đem trả lại toàn bộ số tài sản tìm thấy thế mà không được một lời cảm ơn lại còn bị nghi ngờ. Gã định bỏ đi nhưng ông chủ nhà gọi giật lại:

    - Thằng kia đứng lại, tại sao mày không trả lời tao?

    Nghe tiếng ồn ào ngoài phòng khách bà chủ nhà và thằng con chạy ra. Biết chuyện bà chủ chu chéo:

    - Thôi chết tôi rồi! Cho bà ấy ăn mặc đầy đủ thế mà bà ấy còn lén lút cất giấu tiền của. Mà thằng kia, mày còn giấu giếm cái gì ở đâu không hả... Mấy đêm vừa rồi mày chở bao nhiêu chuyến đi rồi. Nó đem cái gì ra ngoài ông có biết không... Ông phải gọi công an đến khám xét, tra hỏi thằng này ngay cho tôi...

    -Bà im đi, để tôi hỏi nó, gọi công an có mà...

    Thằng con cầm cái nhẫn vàng của bà nội giơ lên lật đi lật lại xem xét rồi nói nhỏ với bố:

    -Thằng này để con xử lý mới được!

    * * *

    Lẽ ra gã đã đi khỏi cái nhà này ngay sau khi bị ông chủ nhà xúc phạm nghi ngờ gã bớt giấu tiền vàng tìm thấy khi phá dỡ căn nhà cấp bốn. Nhưng vì chưa được thanh toán tiền công nên gã chưa đi được. Khi gã đang đang chuẩn bị ăn cơm thì thằng con ông chủ dẫn theo một thằng nữa mặt mũi vẻ hung hãn ra chỗ góc vườn. Hai thằng đạp đổ nồi canh đầu cá đang nấu và dí dao vào cổ gã làm thuê. Giọng chúng sực mùi rượu: “Mày giấu tiền, vàng nhà tao ở đâu!!!” Gã nhìn hai thằng côn đồ với vẻ mặt coi thường. Chỉ cần một cái vung tay của gã thì hai thằng oắt con này chết sặc gạch, không kịp ngáp. Nhưng gã không thèm chấp lũ vô lương. Gã bảo:

    - Không có tiền vàng nào hết! Có bao nhiêu đã đưa ông chủ cả rồi.

    - Vẫn còn! Khôn hồn thì nôn ngay ra!

    - Đưa hết rồi!

    - Hết... rồi... à...?

    Mũi dao trong tay thằng con ông chủ nhích thêm một tý. Máu từ cổ gã rơi xuống ngực áo. Đã thế thì... Bằng một động tác quét chân và vung tay của gã, hai thằng côn đồ đã văng ra xa mấy mét. Chúng lồm cồm bò dậy vung dao định xông vào. Mẹ kiếp! Bọn này muốn chết thật rồi. Gã chợt nhớ lại bữa hai tên lính ngụy cũng từng cầm dao găm lao vào gã như thế này trong một trận đánh khi gã còn là lính của một đơn vị đặc công.

    Bọn khốn này chắc cũng muốn số phận giống như hai tên lính ngụy ngày nào đây. Hai bàn tay gân guốc của gã vo lại thành hai nắm đấm. Giữa lúc ấy thì ông chủ nhà xuất hiện vội vã ngăn lại. Thực ra ông ta đã theo dõi vụ việc “xin tý tiết” của thằng con ngay từ đầu. Ông bảo: “Thôi để nó đi đi...” Gã làm thuê ném cái nhìn khinh miệt vào cái bản mặt phì phị của ông chủ nhà. Gã nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống đất, hất trả lại bao vôi vữa phế thải rồi dắt chiếc xe đạp ra khỏi ngôi biệt thự.

    Trở về chỗ “chợ người” đầu đường Hoàng Quốc Việt, gã ngồi dựa gốc cây xà cừ ngủ gà ngủ gật bởi mấy ngày đêm mệt mỏi phá nhà, chuyển phế liệu.Khi gã đang mắt nhắm, mắt mở nhìn dòng người nườm mượp trên phố thì có tiếng gọi: “Ê! Phụ hồ có đi không?” Sao lại không! Gã nghĩ đã là kiếp làm thuê còn kén chọn gì nữa. Gã vội đạp xe theo mấy đứa cùng bọn chuyên đi bán sức ở thành phố. Cả bọn hì hục gánh cát, bê xi măng, trộn hồ, xách vữa leo lên giàn giáo. Lên lên xuống xuống, chân gã bủn rủn, bụng đói cồn cào. Đầu óc gã trống rỗng. Lúc vác bao xi măng leo lên tầng, gã cứ lâng lâng như đi trên mây. Đột nhiên, gã thấy mình chơi vơi như bay vào khoảng không vô định...

    Gã tỉnh lại và giật mình thấy đang nằm trong bệnh viện. Một cánh tay gã cuốn băng, nẹp cứng treo lên cổ. Gã hốt hoảng nhỏm dậy ngơ ngác nhìn quanh. Cô y tá bảo gã bị ngã giàn giáo được mấy người cùng làm đưa vào viện. May gã chỉ bị gãy tay. Gã bị ngất là do đói quá. Gã chán nản nằm xuống giường. Thế là ky cóp được mấy trăm nghìn đồng cũng chả đủ nộp viện phí.

    Mấy ngày vừa rồi làm việc cật lực mà chẳng được đồng tiền công nào lại bị bố con ông cán bộ nọ vu cho là ăn cắp. Gã chợt nghĩ: “Biết trước bố con nó bất lương thế thì đừng trả lại số tiền vàng ấy còn hơn”. Nhưng rồi gã lại gạt ngay cái ý nghĩ ấy bởi vì những thứ của cải không phải của mình có chết gã cũng chẳng màng. Gã phải nhắn anh bạn cửu vạn cùng làng đến vay thêm để thanh toán viện phí. Tay gãy thế này có lẽ gã đành trở về quê ăn bám vợ thôi.

    Nghĩ đến vợ, gã lại thấy bồn chồn trong lòng. Vợ gã biết xoay xở thế nào đây. Vợ gã vốn là người ốm yếu chẳng làm được việc gì nặng. Tính gã gia trưởng, không vừa ý là quát tháo, bạt tai vợ con ngay. Gã làm hùng hục suốt ngày như trâu húc mả thế mà nghèo vẫn cứ nghèo. Đi làm thì thôi về đến nhà nhìn căn nhà trống huếch, trống hoác, mẹ ốm nằm một giường, vợ ốm nằm một góc là gã lại muốn phát điên lên. Vợ gã là một người đàn bà luôn hết lòng vì chồng con. Suốt đời thị cam chịu. Chưa bao giờ gã thấy thị kêu ca, phàn nàn dù có thiếu thốn, đói khổ, kể cả những khi biết chuyện gã kiếm được tiền, ngán cảnh vợ ốm yếu mò lên tận thị xã chơi gái. Đến bữa ăn, có miếng nào ngon thị cũng dành cả cho mẹ và chồng con.

    Có lẽ cả đời gã sẽ chẳng bao giờ quên chuyện một lần sau bữa ăn ngon miệng, gã xuống bếp tìm cái bật lửa để châm điếu thuốc. Gã bất chợt bắt gặp cảnh vợ gã đang lén gặm lại cái xương gà của con bé gặm dở lúc nãy. Làm thịt một con gà giò, thị gắp miếng thì cho mẹ, miếng thì cho chồng, miếng cho con. Còn thị suốt bữa chỉ gắp toàn rau cho mình. Sau bận ấy, gã thấy thương vợ hơn, đỡ mắng chửi quát tháo mỗi khi bực dọc. Gã định ra Hà Nội làm thuê chuyến này cố ky cóp để mua cho con gái cái xe đạp đi học, mua cho vợ bộ quần áo. Mấy năm nay gã thấy thị chưa có một bộ quần áo nào cho ra hồn. Thế mà bây giờ mọi dự định của gã đều tan thành mây khói.

    Gã tập tễnh dùng một tay dắt chiếc xe đạp lọc cọc ra ga để lấy vé về quê. Trời lất phất mưa. Đã cuối mùa thu. Một cơn gió lạnh bất ngờ thổi tràn trên phố.



    Thèm... hôn

    "Trời đất ơi!. Lâu quá rồi, không hôn một em gái nào!" Giữa bàn cà phê dăm bảy người lơ đãng, Ngoan bỗng dưng bật nói thật to, như là vừa phát hiện một điều lý thú, hay phát giác chuyện động trời. Tuy nhiên, giọng của hắn thì buồn thiu, như đó là điều tệ hại. Vài người ngó theo ánh mắt của Ngoan, xem thử có em gái nào vừa đi qua, khiến anh chàng bỗng nảy sinh liên tưởng không. Nhưng, không có một em gái nào.

    Đám xe ôm cười hô hố. Nhưng mặt Ngoan thì tỉnh rụi. Bảy Dậu - một người đàn ông trung niên lực lưỡng, râu ria xồm xoàm vỗ vai Ngoan một cái thật mạnh, cười ha hả: “Bộ đang chán gấu mẹ vĩ đại hả chú em? Tao có một mối không đến nỗi tệ, nếu thích gật một cái, tao kêu. Hôn hít cái đếch gì. Đánh vật tơi tả luôn”. Đám xe ôm lại cười ha hả. Mặt Ngoan hơi sượng. Anh chàng rít một hơi thuốc, mắt nheo nheo, nói như chỉ cho mỗi mình nghe: “Tui có thèm cái khoản đánh vật đâu. Tui thèm hôn kia mà!”.

    Nói rồi, Ngoan đứng lên rời khỏi bàn cà phê, đi lại chỗ dựng xe của mình.

    Ngoan năm nay ba sáu tuổi, đã có một vợ hai con trai. Ngoan có mười năm làm công nhân xưởng in. Nhưng gần năm nay, đường tắc, kẹt xe liên tục khiến Ngoan không thể đảm bảo giờ giấc, đành xin nghỉ ở nhà. Tính Ngoan là vậy, hắn không thích để ai xài xể mình. Ở nhà, không biết làm gì tiện hơn là chạy xe ôm. Ai mà không chạy xe ôm được. Xách xe chạy ra đường thì thành thằng xe ôm. Nói vậy thôi, chứ trong cánh xe ôm xóm đường tàu này, Ngoan có người bảo kê nặng ký là chú Bảy Dậu - người cùng xóm.

    Còn lúc này đây, Ngoan ngồi trên xe mà cảm thấy bứt rứt không yên. Tự nhiên cái ý nghĩ quỷ quái thèm hôn lại đến. Chắc chừng bảy năm rồi hắn và vợ hắn không hôn nhau. Nói rõ hơn là hai cái miệng không còn gắn vào nhau, để cho lưỡi lùa lách nhau. Khoảng chừng bảy năm, đối với Ngoan việc đánh răng trước khi đi ngủ cũng rất chểnh mảng, tùy hứng. Còn lưỡi thì chẳng bao giờ được cạo sạch bằng cái thanh nhựa vốn vẫn xuất hiện trong ống đồ dùng vệ sinh cá nhân. Chừng bảy năm, Ngoan thấy vợ vẫn đánh răng, cạo lưỡi đều đặn hằng đêm, nhưng đó có lẽ chỉ do thói quen sạch sẽ tỉ mỉ của phái nữ, chứ chẳng phải làm sạch miệng để… hôn nhau.

    Khi còn làm ở xí nghiệp in Ngoan có chơi với một ông nhà thơ sồn sồn. Ông nhà thơ này sống độc thân, nên thỉnh thoảng có dẫn Ngoan đi ăn nhậu, chơi bời tí chút. Thật thà mà nói Ngoan cũng có vài cô gái ở ngoài, nhưng cũng chẳng bao giờ hôn nhau. Ý của Ngoan là miệng chẳng bao giờ gắn vào nhau. Vồ vập lắm thì cũng hôn nháo nhào, dúi dụi đâu đó rồi chợt buông, chợt hẫng, rã rời. Miệng lưỡi như bị bỏ quên ở đâu, bị đánh rơi từ tận kiếp nào.

    Ngoan chợt buồn và chợt thèm. Thèm hôn.

    Có lẽ nụ hôn chỉ thực sự đến khi hai người yêu nhau, muốn khám phá lẫn nhau. Nụ hôn là một hình thức cũ, nhưng nội dung thì luôn luôn mới. Ngoan nghĩ nôm na vậy. Rồi hắn lại miên man tiếp: “Chẳng lẽ mình lại bi kịch như thế sao? Chẳng lẽ đã đánh mất nụ hôn rồi hay sao? Mình già cái chắc rồi?”- Những ý nghĩ dớ dẩn ấy cứ bám riết lấy Ngoan, ngay cả khi hắn đang chạy ngoài đường chở khách.

    Khách của Ngoan là một cô gái rất trẻ, có thể nói là xinh. Cô mặc một chiếc quần jean, áo pull khá mốt, như thông thường chúng ta vẫn thấy ở những cô gái trẻ. Cô không xách, đội cái gì cả. Như từ trong nhà bước ra, ngoắc xe ôm chở đi dạo chơi một vòng vậy. Ngoan nhìn cô gái, cảm thấy một chút lạ lẫm, buồn cười: “Em không cầm mũ bảo hiểm theo hả?”. Cô gái trẻ nhìn Ngoan: “Chú chạy xe ôm chú phải có mũ bảo hiểm cho người ta chứ. Chú không có, tui kêu xe khác?”. Chú và con. Giọng nghe rất xấc. Ngoan thấy bất mãn tới mức muốn đuổi cô gái đi. Nhưng nghĩ phận xe ôm, hắn tự cười thầm, cầm cái mũ bảo hiểm đưa cho cô gái. Một cái mũ bảo hiểm màu xanh, như mũ công nhân cầu đường, bạc màu, trầy trụa. Cô gái cầm cái mũ bảo hiểm ngắm nghía: “Cái mũ này chú lượm ở đâu vậy? Sao chú không mua cái mũ mới, dán hình decal ngôi sao Hàn Quốc cho đẹp. Mũ gì, nhìn thấy ghê”.
    Nói vậy, nhưng cô gái vẫn đội cái mũ lên đầu, nói địa chỉ cần đến. Ngoan “tắt giọng” luôn từ đó. Trong khi chở cô gái đi, hắn nghĩ: “Một cô gái trẻ đẹp như thế này. Nếu chỉ nhìn thôi, mình đã có thể rất muốn hôn. Nhưng khi nghe cô nói chuyện vô duyên như thế, thì liệu có hôn được nữa hay không?”. Trong khi Ngoan nghĩ, thì cô gái tiếp tục nói: “Con ngựa. Cái thằng bồ của tui. Nó kêu tới chở tui đi ăn sáng, uống cà phê mà giờ này lặn đâu mất tiêu. Tui định gọi cho nó, mà điện thoại hết tiền. Con ngựa. Tui tới phòng trọ nó mà gặp nó đang úm con nào là tui... thiến”. Cô gái nói rất hăng, vành mũ bảo hiểm cứ thụi vào lưng Ngoan liên tục. Ngoan trân mình chịu đựng, hắn cảm thấy thật chán nản, nhưng ý nghĩ thèm hôn vẫn không rời. Tất nhiên là không phải với cô gái này.

    Buổi cơm tối khá đạm bạc, lèo tèo vài con cá nục chiên, rau muống luộc. Ngoan kêu vợ chiên thêm mấy cái trứng cho hai thằng nhóc. Vợ Ngoan lườm hắn: “Hoang phí. Mà ăn trứng thì bổ béo cái gì? Giá cả đang leo thang chóng mặt. Cả nhà phải tuyệt đối thực hiện chính sách tiết kiệm”. Nghe vợ nói vậy, Ngoan lại “tắt giọng”. Được cái hai thằng nhóc cũng dễ nuôi. Chúng ăn uống xì xoạp, loáng cái đã đứng lên vuốt bụng căng tròn như cái trống. Thôi vậy cũng được rồi, chưa đói là may. Ngoan tự an ủi. Còn lại hai vợ chồng. Vợ Ngoan bỗng nhỏ nhẹ: “Hôm nào có tiền, anh mua cho em một cân thịt heo ngon để em làm heo quay cho cả nhà ăn. Lâu quá không ăn heo quay, em thèm!”.

    Vợ Ngoan nấu ăn tương đối khéo, riêng món heo quay có thể nói là số một. Ngoan cũng thích ăn heo quay với bánh hỏi. Nhưng nghĩ đến đó Ngoan chợt thấy mắc cười: “Trời đất, trong khi mình đang thèm hôn thì bả lại thèm heo quay, thiệt là tréo ngoe!”.

    Đêm đó, đi nằm rồi, Ngoan nghĩ sao, chợt nhổm dậy đi đánh răng. Đứng trước chiếc gương trong nhà tắm, Ngoan nhe hàm răng ra, thấy ố vàng khói thuốc, lưỡi nhuộm nâu màu cà phê. Ngoan thấy ngán ngẩm với hàm răng của chính mình. “Có lẽ, nên bỏ thuốc lá thôi” - Ngoan vừa nghĩ vừa đẩy bàn chải thật mạnh, đến mức va vào lợi, bật máu.

    Những buổi tối sau đó, Ngoan tiếp tục triển khai đánh răng, cạo lưỡi đều đặn. Nhưng hắn vẫn chưa tìm ra “lý do” gì để hôn vợ. Một đêm, trong khi đang ôm nhau, vợ hắn âu yếm hỏi: “Anh thấy kem mùi bạc hà với mùi dâu mùi nào dễ chịu hơn?”. Ngoan cười: “Anh thấy mùi bạc hà sảng khoái hơn. Mùi dâu tụi con nít chắc khoái”. Vợ Ngoan nói: “Nhưng em lại thích mùi dâu. Anh nghe thử có dễ chịu không”. Nói xong, vợ Ngoan ghé miệng mình vào mũi hắn phả một làn hơi nhẹ. Hắn thấy thơm thơm, làm bộ hít hít, nhưng rồi lại nói: “Mùi này của con nít mà”. Vợ Ngoan nghe vậy liền rụt mình lại, không nói gì, lẳng lặng quay lưng, úp mặt vào tường.

    Xe chạy qua một con đường đất vắng, rợp mát bóng cây, rồi quẹo qua sân banh. Một cái sân đất nhỏ vẫn thường làm nơi tụ tập cho bọn nhóc trong xóm đá banh vào buổi chiều. Bọc quanh sân banh là những hàng cây tràm bông vàng tươi tốt. Chạy tắt qua sân banh là đến nhà dì Chín. Ngoan đang chở dì Chín đi chợ về nhà. Dì Chín là mối ruột mà Ngoan mới kiếm được gần tháng nay.

    Đường vào nhà dì Chín còn có đường đi khác, nhưng Ngoan vẫn thích tắt qua lối này. Mỗi khi chạy ngang qua sân banh, hắn nghĩ: “Mai mốt dắt tụi nhỏ ra đây đá banh chơi!”. Nghĩ vậy nhưng rồi có rảnh rang bao giờ đâu. Chuyện áo cơm cứ tối mặt tối mày.

    Chợt Ngoan thấy dưới gốc một cây tràm, có một đôi trai gái đang quấn vào nhau, mắt nhắm tịt lại, hai môi không rời. Trời đất, mới hơn chín giờ sáng mà đã hẹn hò ra đây, tình tự quá cỡ. Ngoan muốn ngó lảng đi vì xấu hổ, nhưng rồi hắn cứ mở to mắt nhìn. Lồng ngực Ngoan như rung lên. Tay lái hắn loạng choạng, rồi bất thần ngã uỵch một cái. Đôi trai gái nghe tiếng động chợt rời ra. Ngoan hoảng hồn đỡ dì Chín dậy. Cũng may không sao. Nhưng giỏ đồ ăn thì văng tung tóe.

    Khi Ngoan đưa dì Chín về đến nhà, hắn lung búng nói xin lỗi, không nhận tiền. Nhưng dì Chín kiên quyết ấn tiền vào tay hắn rồi nói: “Ngày mai khỏi rước dì nữa nghen. Mày chạy ẩu quá. Để dì kêu người khác”.

    Ngoan quay xe về bến, buồn thiu. Vậy là hắn đã để mất mối làm ăn vì một chuyện bá láp là nhìn người ta hôn. Ngoan cảm thấy không thể tha thứ cho mình. Thế nhưng, khi “tua” lại cảnh đôi trai gái trẻ đang đắm chìm vào nhau, Ngoan lại thấy bứt rứt không yên. Cơn thèm hôn lại đến.

    Ngoan bất ngờ nhận điện thoại của nhà thơ sồn sồn, nhân viên kỳ cựu của nhà in. Nhà thơ sồn sồn bảo: “Gần tết rồi, nhà in đang cần thợ làm ca đêm. Chú mày thu xếp được không?”. Ngoan nói ngay: “Dạ, được”. Nhà thơ sồn sồn hỏi: “Vậy tối mai đi làm luôn nghen”. Ngoan vồn vã: “Làm luôn tối nay cũng được”. Nhà thơ sồn sồn cười: “Tối mai đi. Chiều tối nay hai thằng mình kiếm chỗ cụng ly cái cho vui, hả?”. Ngoan cười: “Dạ, nhất trí”.

    Gặp nhà thơ sồn sồn, sau khi làm vài chai, Ngoan dốc bầu tâm sự. Hắn kể chuyện bỗng dưng thèm hôn. Chuyện hắn thèm hôn mà con vợ thèm heo quay. Chuyện hắn nhìn thiên hạ hôn nhau mà té ngã xe, mất mối làm ăn. Chuyện thời buổi gì mà kiếm tiền khó khăn… thí mộ nội.

    Nhà thơ sồn sồn nghe hắn nói xong, bèn cười độ lượng: “Chú còn thèm hôn là tốt, không có gì phải xấu hổ cả. Chứng tỏ tuổi thanh xuân của chú vẫn tràn trề. Nhưng hỏi thiệt, xưa giờ chú hôn được mấy em rồi?!”. Ngoan gãi đầu: “Dạ, nếu gọi là hôn cho ra hôn thì chỉ có mỗi con vợ em!”. Nhà thơ sồn sồn bật cười: “Dở ẹc. Hồi trẻ cỡ tuổi mày, là tao hôn muốn… mòn cái lưỡi”. Ngoan xua tay: “Xạo. Vậy sao đến giờ anh còn ở một mình?”. Nhà thơ sồn sồn nheo mắt: “Lắm mối tối nằm không. Chú không nghe hả. Nhưng nằm không mà hồi tưởng lại những nụ hôn thì cũng đã lắm nghen”. Ngoan bối rối: “Bây giờ mà hôn con vợ, nói thiệt tui thấy nó kỳ kỳ làm sao đó. Nhưng, đâu có con nhỏ nào tự nhiên đưa cái mỏ nó cho mình hôn đỡ thèm?”. Nhà thơ sồn sồn bật cười: “Chuyện đó thì tao cũng bó tay thôi. Tao chỉ có thể giúp chú em được một chuyện”. Ngoan hỏi: “Chuyện gì?”. Nhà thơ sồn sồn lấy trong túi ra mấy tờ giấy năm chục dúi vào tay Ngoan, giọng chân tình: “Cầm lấy đi, lát về ghé tiệm heo quay A Sáng mua một ký về cho vợ con. Tiệm A Sáng không tệ đâu!”.

    Ngoan về tới nhà thì đã khuya. Hai thằng nhóc đã ngủ say. Vợ Ngoan vẫn còn thức ngồi kết bông vải. Đây là công việc cô vừa kiếm được để làm thêm vào dịp tết. Ngoan lẳng lặng đi thẳng vào bếp, mở bịch thịt heo quay xếp đầy một dĩa to, phần còn lại cất vào tủ lạnh. Vợ Ngoan vẫn cắm cúi làm, coi như không thấy Ngoan trên đời. Cho đến khi Ngoan đặt dĩa thịt heo quay trước mặt thì cô nàng mới ngẩng lên: “Heo quay hả? Tiền đâu mà anh mua? Sao không mua thịt về cho em làm?”. Ngoan tủm tỉm: “Heo quay tiệm A Sáng cũng không đến nỗi tệ đâu. Anh làm thử một miếng rồi. Em ăn đi!”. Vợ Ngoan cầm lên một miếng, bỏ vào miệng ăn ngon lành. Nhưng rồi cô lại hỏi: “Bữa nay anh vô mánh hả?”. Ngoan lắc đầu: “Mánh mung gì đâu. Anh làm mất mối dì Chín luôn rồi”. Mặt vợ Ngoan hơi xị xuống: “Sao vậy, mối ruột mà? Anh làm ăn kiểu gì vậy”. Ngoan tủm tỉm cười: “Em đừng lo, ngày mai anh đi làm xưởng in lại rồi. Làm ca đêm, ban ngày anh sẽ ở nhà kết bông với em!”.

    “Tối nay em đánh răng kem bạc hà, anh nghe có dễ chịu không?” - vợ Ngoan thỏ thẻ. Ngoan nghiêng người đưa mũi vào sát miệng vợ. Mùi hương bạc hà thơm thơm. Ngoan ướm thử miệng vào môi vợ. Cô để im, nhưng tay ghì lấy người Ngoan thật chặt. Ngoan quyết định sẽ hôn thật đậm đà. Hắn áp sát khuôn mặt của mình vào mặt vợ. Nhưng đúng lúc đó thì cô nàng đẩy hắn một cái thật mạnh: “Trời ơi, anh chưa đánh răng hả? Miệng anh mới nhậu về hôi quá. Đi đánh răng đi ông tướng”.

    Ngoan vội nhảy khỏi giường, vào nhà tắm đánh răng thật kỹ. Hắn đẩy bàn chải thật mạnh, va cả vào lợi, bật máu. Xong, hắn thử thở vào lòng bàn tay. Vẫn còn nghe mùi hôi. Hắn lại quẹt kem, đánh răng một lần nữa. Lần này thì hắn không quên dùng thanh nhựa nạo sạch lưỡi.

    Ngoan hân hoan bước ra. Hắn mường tượng một bữa hôn đã thèm. Nhưng khi chui vào giường thì hắn thấy vợ đã ngủ say tự lúc nào. Trên môi cô nàng là một nụ cười tươi tắn lạ lùng. Không biết là vì đang mơ thấy nụ hôn của Ngoan hay vì mấy miếng thịt heo quay hồi nãy?!


    8/26/2008

    Ngàn lẻ một chuyện về... người Việt xấu xí

    Những câu chuyện kể về tính xấu của người Việt mà ta có thể bắt gặp trên.. mọi ngả đường.

    1. "Chạy cho kịp giờ"

    Một lần đèn đỏ, phía bên kia đường vắng không ai qua, mọi người liền vượt đèn, mỗi tôiđứng lại, thế là họ quay lại nhìn tôi như thể nhìn người ngoài hành tinh. Tất nhiên là tôi không thấy xấu hổ, người nên xấu hổ là những người đã vượt đèn đỏ kia - họ vừa bị "mù màu" vừa bị hổng kiến thức nữa.

    Một đứa bé được ba mẹ chở, đến đèn đỏ mọi người cùng vượt. Bé hỏi "sao đèn đỏ mọi người lại chạy, cô giáo dạy đèn xanh mới được đi cơ mà". Ba mẹ trả lời: "chạy cho kịp giờ ". Với cách nghĩ đó, sau này bé cũng sẽ "vượt đèn cho kịp giờ ". Lại một thế hệ nữa đi theo thói quen xấu.

    2. "Xin lỗi, người Việt Nam toàn thế"

    Ngay trong sáng nay thôi khi tôi dừng xe theo trình tự để đổ xăng, lúc đó cây xăng rất đông và ai cũng nhẫn nại chờ đợi đến lượt mình. Khi một người vừa rời đi thì có một cậu thanh niên vượt lên đổ ngay trước mặt tôi, nhanh chóng yêu cầu người bán hàng đổ trước.

    Người bán hàng cũng không cần xem xét hành động của anh ta và cứ đổ cho anh ta trước. Tôi nói với người bán hàng mình đã đến trước và đề nghị không đổ cho người loi choi đó, người bán hàng không nói gì, còn cậu thanh niên kia bảo: " Xin lỗi! Người Việt Nam toàn thế" rồi bỏ đi trước sự ngơ ngác của bao người.

    Vậy đấy, người Việt ta rất xấu và nếu chúng ta mỗi nguời hàng ngày không tự ý thức rèn luyện, e rằng thế hệ sau sẽ ảnh hưởng bởi hiệu ứng lan truyền, thấm lâu và chính chúng ta sẽ chịu hậu quả " gieo gió thì gặt bão".

    3. Miễn xin lỗi

    Chuyện vô ý thức trong nếp sống hàng ngày tôi thường xuyên gặp. Chẳng nói đâu xa, mỗi buổi sáng đi tập thể dục tại lớp thể dục thẩm mỹ của trung tâm thể dục thể thao Quận, tôi vẫn thấy những chị đi làm đẹp cơ thể mình chen ngang một cách vô lối, họ đến muộn nhưng vô tư đứng trước mặt người khác và lờ đi như không có ai đứng xung quanh, cho dù khoảng cách giữa mọi người thường là 1sải tay để tránh va, đá vào người khác và cũng tỏ ra bình thường khi dang tay vả ngang mặt người khác (không cần xin lỗi).
    Thiết nghĩ, nếu nền giáo dục của ta chưa dạy được ý thức con người (ý thức phải tự tích luỹ và vận dụng) thì các phóng viên nhà đài có thể làm chương trình về ý thức công dân và dành khoảng 5 đến 10 phút và nhà đài có thể phát trong chương trình nào đó để phổ biến ý thức trong cộng đồng.

    4. Đám đông

    Mỗi lần đi ngang qua 1 vụ đụng xe, cả 2 bên cùng chửi nhau ỏm tỏi, rồi mọi người hiếu kỳ đứng lại xem làm kẹt xe. Không biết họ đã để lãng phí mất bao nhiêu thời gian vì chuyện đó.

    Một lần, cô dạy văn của tôi kể chuyện, ngày xưa thời đánh Mỹ ở Sài Gòn, một trái bom nổ lên, không có thương vong, mọi người hiếu kỳ bu lại xem. Đến trái thứ 2 phát nổ, cả trăm người đó chết hết. Tai hại thật.

    5. Chỉ trẻ con mới cần học đạo đức?

    Một lần tôi leo Fansipan cùng một nhóm bạn trong đó có một anh đi du học Hàn Quốc về. Ngay khi mới bắt đầu vào rừng, khi có người vứt cái vỏ chai nước đã uống hết ra đường, anh nhặt lên và nói là chai nước và các loại túi ni-lon sẽ mất rất nhiều thời gian để phân huỷ, vì vậy không nên vứt chúng bừa bãi mà chờ khi có thùng rác mới cho vào.

    Tôi nghĩ, mỗi chúng ta cũng nên như anh bạn kia, biết hướng dẫn cho người khác có ý thức hơn không chỉ về việc bảo vệ môi trường, biết xếp hàng, không lãng phí trong bữa tiệc đứng mà còn cả ý thức cư xử văn minh.

    Tôi cũng mong ngành giáo dục quan tâm hơn về vấn đề này hơn nữa. Khi còn là học sinh cấp 1, tôi có được học môn Đạo đức và đã có nhưng bài học thật bổ ích, nhưng sau đó thì chúng ta không có nhưng môn tương tự cho lứa tuổi lớn hơn.

    Ngay cả khi học đại học, khi học môn Luật đại cương tôi chỉ được học các điều luật, các chế tài xử phạt, chứ không thấy được học về ý thức chấp hành luật. Phải chăng Bộ giáo dục cho rằng chỉ có trẻ con mới cần học môn đạo đức?



    8/25/2008

    Báo động trào lưu "uống máu rồng"

    Chán rắn, ngán thịt rừng và nhất là quan niệm "ăn rồng sẽ khỏe như rồng" nên gần đây, các môn đồ của cơn lốc tráng dương bổ thận đang chĩa tầm ngắm vào một loài bò sát có tên rồng đất. Mốt ăn chơi không chỉ khiến số phận của rồng đất lâm nguy mà còn tiềm tàng những hiểm họa khôn lường với người trong cuộc.

    maurong.jpg
    Cắt tiết cho các ông tăng lực

    Chào hàng - Hành quyết ngay tại bàn nhậu

    "Sau nhiều năm dài bị lép vế trước đại ca mãng xà, rồng đất đã có cuộc soán ngôi ngoạn mục khi trở thành món thực đơn chính của nhiều quán nhậu ở Sài Gòn, tụ điểm ăn nhậu của cả nước. Quất máu, mật, tim, thịt… thằng này vô, đảm bảo tối nay về, bà xã chỉ có nước lạy anh em mình đó" (?!).

    Đấy là tuyên ngôn của một trong 4 quý ông tại quán nhậu H.R trên đường Hai Bà Trưng, quận 1. Dứt lời, ông này sành điệu hất hàm hỏi cô phục vụ đỏm dáng: "Hôm nay có rồng đất không cưng?". "Dạ có!". "Lớn hay nhỏ?". "Đại cồ việt luôn anh!". Dứt lời, cô nàng ngoáy đầu về hướng nhà bếp ra hiệu. Trong tích tắc, một thanh niên tay cầm con rồng đất tiến thẳng ra bàn nhậu.

    Chứng kiến cảnh gã thanh niên cầm gáy con vật có màu sắc sặc sỡ như con tắc kè hoa bự gấp rưỡi cổ tay người lớn đang phùng mang, giãy giụa trong sự tuyệt vọng đặt trên bàn nhậu cho các ông khách sành điệu xem mập, ốm, nhiều thực khách đang ngồi nhậu đã không rời mắt vì ấn tượng. Sau vài cú sờ nắn ra vẻ, ông khách bệ vệ lúc nãy lại hất hàm: "Cắt tiết hai con, một trộn gỏi lá me, một nướng".

    Thượng đế vừa dứt lời, anh nọ xăng xái rút trong túi quần con dao kề cổ con vật. Nhát dao lướt qua, dòng máu đỏ từ yết hầu con rồng đất bắn xối xả vào ly rượu trắng. Bằng cú lỉa dao điệu nghệ, trong tích tắc, nguyên bộ lòng của con rồng đất sề ra, trái tim còn đập phập phồng cùng túi mật của con vật được anh nọ tống thẳng vào ly rượu.

    Sau màn cắt tiết, anh nọ mang hai con rồng đất vào bếp và sau khoảng 15 phút chờ đợi, 4 ông khách sành điệu đã có thể hân hoan nốc rượu pha máu rồng và nhấm nháp gỏi rồng trộn lá me, rồng nướng ngũ vị.

    Tại các quán nhậu khác thuộc loại tiếng tăm ở thành phố như quán V.C trên đường Hoàng Văn Thụ, quán L.N.N.B trên đường Cách Mạng Tháng Tám, tôi liên tục nghe nhiều thực khách yêu cầu cắt tiết rồng đất. Bất chấp khuyến cáo của ngành Y tế đã có nhiều người phải thân tàn ma dại, thậm chí bỏ mạng vì cái tội ăn tiết canh, uống rượu pha máu vì máu động vật chính là nguồn lây lan các bệnh truyền nhiễm, tại các quán đặc sản chúng tôi đến đều thấy các ông uống máu rồng hà rầm.

    Lời khẩn cầu tuyệt vọng!

    Hải, đầu bếp của quán H.R trong quá trình cắt tiết vui vẻ kể chuyện rồng cho mấy ông khách hám của lạ. Theo lời Hải, ngoài việc lạ miệng, ăn rồng để được khỏe như rồng, một trong những nguyên do chính đưa rồng đất lên ngôi "đệ nhứt mồi" là do tính an toàn của thân xác chúng. Hải chép miệng: "Dạo gần đây, báo chí liên tục phản ánh thịt rừng được tẩm hóa chất ướp xác người phọc môn - phọc méc gì đó ăn vào dễ bị ung thư nên các bố ngán. Rồng đất được làm thịt lúc tươi sống, ăn ngon lại an toàn tuyệt đối nên ai cũng kết".

    Theo Sách đỏ Việt Nam, ngoài các tỉnh thuộc Tây Nguyên, rồng đất còn hiện diện ở các tỉnh như Lào Cai, Yên Bái, Bắc Cạn, Bắc Giang, Kiên Giang…, nói chung, phạm vi phân bố của rồng đất rất rộng nhưng đáng tiếc là số lượng giảm sút nhiều. Đây cũng chính là lý do mà sách này đã xếp rồng đất vào nhóm động vật hoang dã có mức độ đe dọa bậc V, nghĩa là có nguy cấp tuyệt chủng.

    Nguy cơ này ngày càng cao khi những con cái với bụng mang dạ chửa lặc lè là đối tượng ưu tiên số một của dân lai rai. Nhiều thực khách ra vẻ sành điệu: "Trứng rồng béo, thơm, ngọt, bùi, có vị nhẫn lạ miệng rất tuyệt vời… Trứng đó mà đem xào với hành thì ngay cả vua chúa cũng còn thèm chứ nói chi anh em mình".

    Con bé chưa kịp lớn đã bị tóm, con cái bụng mang dạ chửa làm nhiệm vụ duy trì giống nòi, người ta cũng chẳng tha, bị truy sát theo kiểu tận diệt như thế hỏi sao rồng đất tránh khỏi thảm cảnh lâm ly phận số.

    Khang, một lái rồng lúc đang giao hàng cho một quán nhậu đặc sản rừng ở quận 12, cho biết: "Rồng đất mỗi ngày một hiếm nhưng nhu cầu thì cứ liên tục gia tăng. Để có hàng cung cấp cho thị trường, không ít chủ vựa đã chơi bạo ứng tiền trước cho các nhóm thợ săn và thu mua với giá cao nhưng vẫn không gom đủ nguồn hàng cung ứng".

    Nói đến đây, gã lái rồng bày tỏ sự nuối tiếc: "Bây giờ, chỉ toàn là loại rồng tắc kè dưới 200 gram không hà (ý nói rồng đất nhỏ) nên khách hàng ít chuộng. Bởi vậy nên dù muốn "bơm" giá nhưng tụi tui cũng đành chịu thua… Đã có nhiều thượng đế tuyên bố sẵn sàng chi bạc triệu cho con rồng chúa nào có trọng lượng trên 500 gram nhưng… chịu. Tất nhiên phải là rồng tự nhiên chứ rồng nuôi thì hổng có giá đó". Món khoái khẩu của rồng đất là côn trùng, nhất là các loài gây hại cho nhà nông. Thế nên sự vắng mặt của rồng đất đã vô tình góp phần thổi bùng sự lộng hành của nhiều loài gây hại như rầy nâu, bọ xít, cào cào, châu chấu… Tại nhiều vùng quê, "lũ giặc" này đã làm cho hàng ngàn hộ nông dân điêu đứng vì mùa màng bị thất bát. Điều đáng buồn là thảm trạng đó vẫn không thức tỉnh được đám mày râu lắm tiền khoái của lạ, mê tăng lực


    “Tắm tiên” trong... bồn nước nóng

    Người ta bảo Thuận Mỹ là “cõi tiên”. Điều đó đúng hay sai tùy thuộc vào cách nghĩ của mỗi người. Còn tôi, thực lòng không muốn kể những chuyện ở nơi được cho là “cõi tiên” ấy, bởi thấy chạnh lòng cho những quy chuẩn đạo đức văn hóa ngàn đời được vun đắp ở những con người mộc mạc, chất phác nơi đây đã bị mai một.

    Người bạn ở Ba Vì biết tôi đang trên đường đi Thuận Mỹ, đã cười khoái trá: “Ông đến Thuận Mỹ là đến với cõi… tiên đó”. Sao lại là cõi tiên ở miền xứ Đoài mây trắng này? Tôi gặng hỏi thì cậu bạn úp mở “thì ông cứ đến đi rồi sẽ biết. Ở đó toàn tiên, mà là tiên bằng da bằng thịt chứ không phải tiên trong truyền thuyết giáng trần đâu. Ông tin hay không thì tùy…”.

    “Ở đây có… tiên”

    Lời giới thiệu của người bạn khiến tôi tò mò. Tôi từ thành phố Sơn Tây “phi” một mạch hơn 30km đến Thuận Mỹ sau nhiều lần hỏi thăm đường. Tỉnh lộ 86 rẽ vào xã Thuận Mỹ càng đi càng vắng. Đường nhựa thênh thang, bóng cây rừng rợp mát càng làm cung đường trở nên hư ảo dưới bóng mây chiều sơn cước.

    tamtien1.jpg

     “Tiên” chạy lả lơi khắp làng

    Cây cỏ ở đây như được tiếp thêm sức mạnh của không khí trong lành của núi đồi non Tản, nó càng trở nên thơ mộng và thanh bình. Mặc dù cột số báo Thuận Mỹ 12km nữa nhưng tôi vẫn phải dừng xe hỏi khi phát hiện trước mắt có người đàn bà chít khăn kín mít đang phát cỏ chè bên đường.

    “Chị cho em hỏi đến Thuận Mỹ?”. “Chú cứ đi thẳng khi nào đến bờ đê nhìn thấy cây đa cổ thụ đầu làng thì đó là Thuận Mỹ”. “Có phải ở đó có…”. “Đúng rồi”. Tôi chưa nói hết câu nhưng người đàn bà có vẻ đã hiểu ý và chỉ đường cho tôi với vẻ gượng gạo khác thường trên ánh mắt chất phác.

    Vẫn còn đó cái dáng làng cổ kính của miền quê xứ Đoài. Cây đa đầu làng sừng sững tỏa bóng rợp mát cho Thuận Mỹ. Có lẽ đây là nét duy nhất để khắc họa sự mộc mạc cho miền quê này.

    Người đến Thuận Mỹ lần đầu tiên sẽ tự hỏi, miền quê xa nằm bên bờ dòng sông Đà quanh năm thác đổ ầm ào sao, lại xuất hiện nhiều nhà nghỉ đến thế. Những nhà nghỉ máy lạnh chạy ro ro ngày đêm nằm san sát, lấn cả ruộng ngô, bãi khoai màu mỡ của những người nông dân thuần phác.

    Trong bản đồ du lịch, Thuận Mỹ, Ba Vì không phải là địa danh du lịch tiếng tăm. Vậy những khối bê tông khang trang trưng biển nhà nghỉ lòe loẹt kia dành cho người làm đồng mệt mỏi nghỉ ngơi sau những giờ lao động vất vả ngày mùa?

    Xưa kia, khi Thuận Mỹ còn nghèo, xóm làng trọng việc học hành, lễ nghĩa. Cái tiếng giữa làng đối với họ là điều cao cả hơn tiền bạc và những vật chất giá trị khác. Giá trị văn hóa đạo đức ở Thuận Mỹ giờ đây đã bị thương mại hóa.

    Từ đầu làng đến cuối ngõ ở Thuận Mỹ, từ nhà tranh mái lá lạc hậu đến nhà cao tầng tân tiến đều treo: những tấm biển mời gọi du khách “vào gặp tiên”, “tiên tản non sa”… Những tấm biển như vậy được treo kệch cỡm.

    Màu biển xanh xanh hồng hồng, với những dòng chữ mời gọi và hình ảnh những “cô tiên tóc nâu môi trầm” lả lơi, đêm cũng như ngày đèn màu nhấp nháy như thị tứ phồn hoa ở xứ nào đó chứ không phải vùng quê dưới Tản non viên nữa. Từ đường làng đến ngõ xóm đâu đâu cũng là biển quảng cáo “Tắm tiên nước nóng… bỏng. Các nàng tiên sẽ đưa “vương gia” vào dòng nước khoáng thiên nhiên 40 độ C”.

    tamtien2.jpg

     Từ đầu làng đến cuối làng đều có dịch vụ “tắm tiên”

    Sự đón tiếp chuyên nghiệp khiến tôi không khỏi hoang mang bởi những tiếng cười khúc khích của đám trẻ chăn bò bên triền đê sau lời hỏi thăm của tôi… Chủ nhân của những nhà nghỉ khang trang ấy là những người có lắm tiền của từ thành phố về đây xây dựng. Chính họ là những người mang cái “hồn phố” của nơi phồn hoa về vùng thôn dã này.

    Tiên sa… bồn nước nóng

    Từ đầu làng đến cuối làng, qua mỗi ngôi nhà lại có người ngó đầu ra vẫy: “đây cơ mà, đây anh ơi!”. Đang đứng trên triền đê sông Đà, chiêm ngưỡng phía bờ bên kia là địa danh Thanh Thủy, Phú Thọ, thì một người đàn ông chạy đến vồn vã: “Này chú, vào tôi đi, nhà tôi nước nóng hơn bên Thanh Thủy nhiều, đảm bảo cho chú sảng khoái, nếu không đồng ý chú cứ thay đổi khi nào vừa lòng thì thôi, “tiên” nhà tôi tha hồ… chọn. Đi, nào đã về đến đây rồi, ở nơi khác làm gì có như ở đây. Chú cần sẽ có 3, 4 “tiên” tắm cho chú một lúc luôn”.

    Trong căn nhà mái ngói khang trang, cả hai vợ chồng trông rất thuần phác giới thiệu về “tiên nữ” hiện đang có trong nhà mình. Bên dãy phòng kế bên cửa đóng then cài, tiếng nước xối xả hòa lẫn tiếng cười khúc khích bên trong. 6 phòng bồn đều đóng kín cửa.

    Chị vợ đon đả ra đầu nhà bẻ chùm nhãn mang vào mời khách: “Chú uống nước đi rồi ăn hoa quả, cây nhà lá vườn nom thế mà ngọt lịm”. Một lúc sau, cánh cửa phòng mở tung, mấy cô “tiên” từ bồn nước tắm bước ra, quay đầu rũ nước trên mái tóc.

    Mấy người đàn ông bước theo sau, đầu tóc ai nấy nhỏ từng giọt nước xuống vai áo khô. Ngoài sân, một cụ già vẫn đang băm rau lợn từ khi tôi vào đến giờ. “Em vào tắm đi, tiên nữ sẽ tắm cho em, em sẽ hết mệt”.

    “Nước nhà anh không nóng thì phải”. “Có. Em không pha nước mát có khi bỏng không chịu được ấy chứ”, “Lan, Thủy, Hạnh… đâu vào đây em”. Cả ba cái tên vừa được chủ hô liền vào bên bàn tôi đang ngồi. “Đấy! Em thích “tiên” nào thì vào, hay cả 3 đi để các cô ấy tắm cho sạch”.

    “Các em cứ ngồi uống nước đi, tôi đi đường xa giữa trời nắng hơi mệt, sợ cảm lắm, để tôi nghỉ ngơi đã”. Thật ra, những cái tên mỹ miều ngồi cạnh tôi bây giờ thì chỉ để gọi thôi, chứ chắc chắn chả phải tên cha mẹ đặt cho.

    Tôi nhìn một cô gái khuôn mặt hiền lành có tên Thủy: “Em ngồi xuống đây đi”. Thủy nhẹ nhàng rót nước mời tôi. Đôi tay của Thủy khiến tôi giật mình. Nó không còn là đôi tay của người con gái tuổi đôi mươi nữa, mà nhăn nheo như đôi tay của bà cụ già vừa rút lên từ ruộng cấy mùa đông giá.

    Tôi hỏi cô từ vùng nào tới, Thủy không nói nhưng chất giọng còn lơ lớ cũng khẳng định được em đến từ vùng quê nào rồi. “Tôi đi đường xa, không dám tắm, sợ bị cảm. Tôi ở xuôi lên làm dự án, và sẽ còn làm ở đây nhiều ngày, em cho tôi xin số điện thoại, nếu tối rảnh tôi có thể mời em ra uống nước mía dưới gốc đa đầu làng”.

    tamtien3.jpg

    Cuộc sống hiện đại đang phá vỡ không gian tĩnh mịch ở làng quê

    Cách đây ít hôm, tôi trở lại Thuận Mỹ đã gọi cho Thủy và cô đã nhận lời ra quán nước mía. “Anh lạ nhỉ, sao anh có vẻ quan tâm đến người như bọn em. ở đây người ta đến rồi về nhưng chẳng ai hỏi han kỹ như anh cả” - Thủy thắc mắc. Rồi cô gái kể: “Em đã có chồng con, quê em nghèo nên em bỏ con cho bà nói dối chồng đi làm ở ngoài Hà Nội.

    Làm cái này cũng khổ lắm, nhưng vẫn phải chấp nhận vì em chẳng biết làm gì hơn để có tiền nuôi chồng con. Mỗi ngày tắm cho khách cũng được vài trăm ngàn đồng. Đấy là em khỏe, chứ ai mà yếu chỉ tắm được cho 3, 4 người một ngày thôi. Ngâm nước suốt ngày, người bã như vắt giẻ, nước làm rụng  tóc, da tay chân như người chết nước.

    Con gái bọn em ngâm nước như thế, bệnh phụ nữ khó lòng chữa trị được, có khi lở loét hết”. Thủy cho biết: “Cách đây vài tuần có một chị đến đây làm đã phải mang theo cả đứa con nhỏ 6 tháng tuổi gửi chủ nhà. Vừa làm, vừa nuôi con được chưa đầy một tháng đã bị ốm, về quê rồi”. 

    Phận  làm kiếp mua vui cho người là vậy. Lạc vào cõi làm “tiên” này có phải ai cũng làm người tội lỗi? Đến Thuận Mỹ nếu có nhu cầu có thể ới một tiếng lập tức 10 “tiên nữ” kỳ cọ cho từng kẽ chân… lông, vui đùa thỏa thích trong bồn tắm nước nóng được khơi hút từ lòng đất sâu tới cả nghìn mét. 

    5 năm trở lại đây, khi Thuận Mỹ du nhập thú “tắm cho khách mời” thì miền quê này không còn bình lặng nữa. Tệ nạn đã đẩy làng quê thôn dã vào chốn ăn chơi.

    Đi từ đầu làng đến cuối làng, người ta khó bắt gặp hình ảnh  thôn nữ gánh nông sản ngày mùa, nhưng dễ dàng thấy các “tiên nữ” lượn qua, lượn lại, đứng gọi khách. Nhà nhà có “tiên nữ, người người đón khách cho tiên nữ tắm”. Cái  gọi là nghề mà không phải nghề ấy nó được người thành phố mang về đây đã đánh bật được cả nghề làm nông nghiệp cố hữu.

    Tất cả những quy chuẩn của đạo đức, của văn hóa mà ngàn đời nay vun đắp hình như không còn ý nghĩa ở miền quê Thuận Mỹ này nữa. Luồng gió đen được du nhập từ chính người thành thị đã làm xói mòn hồn quê nơi đây.


    8/23/2008

    Giáo Trình Cấu Trúc Dữ Liệu 1


    Bộ Giáo Trình Môn Cấu Trúc Dữ Liệu 1
    Viết Trên Power Point

    Click Here To Download

    8/22/2008

    Lý Thuyết - Bài Tập Photoshop Nâng Cao


    10 bài lý thuyết - thực hành photoshop nâng cao
    Giáo trình được viết bằng file Acrobat Reader (PDF File)

    Click Here To Download
    8/15/2008

    Giáo Trình Photoshop Căn Bản


    Tài Liệu Tham Khảo Môn Photoshop
    Hệ cử nhân - Trung tâm VNIT
    click here to download


    8/13/2008

    Món quà sinh nhật - Vạn Kim Bôi



    Tốt nghiệp đại học Ngoại ngữ, tôi được phân về dạy ở một trường dành cho người khiếm thị. Thú thật ban đầu tôi không lấy gì làm thích thú và tha thiết với công việc này.

    Nhìn lũ bạn cùng lớp đại học, đứa thì làm cho công ty liên doanh nước ngoài, đứa thì được giữ lại trường làm giảng viên, tôi lại cảm thấy xấu hổ với công việc mình đang làm vì quá thua kém bạn bè về cả địa vị và thu nhập.

    Chính vì lẽ đó, tôi thờ ơ với tất cả mọi thứ trừ công việc chuyên môn của mình. Đến giờ thì lên lớp, hết giờ thì về nhà. Tôi không chú ý đến đám học sinh trong cái lớp học đặc biệt ấy. Tôi biết rằng, nhiều đứa đặt cho tôi biệt danh là “mặt sắt” nhưng tôi cũng chẳng thèm để tâm. Tôi luôn tìm cơ hội để chuyển sang công việc khác.

    Hôm ấy là sinh nhật tôi. Trời mưa tầm tã. Gần hết giờ dạy mà mưa vẫn chưa ngớt. Trong lúc đám học sinh đang cặm cụi làm bài tập, tôi tranh thủ nhắn tin cho bạn trai tới đón. Khi tiếng chuông tan tầm vừa dứt, tôi nhét vội cuốn sách vào túi và ra khỏi lớp học. Phía bên kia đường, bạn trai tôi đang đợi ở quán nước. Tôi rảo bước về phía anh mong sớm được về nhà. Vừa chuẩn bị lên xe, tôi nghe phía cổng trường có tiếng gọi với theo: Cô ơi…!

    Tôi nghĩ bụng: “Chắc mình bỏ quên cái gì đấy. Thôi để mai lấy, trời đang mưa thế này…”. Tôi ái ngại và giục anh nổ máy.

    Chợt tôi nghe có tiếng động cơ xe máy rú ga vọt qua và tiếng kêu thất thanh. Đứa học trò nằm sóng xoài trên mặt đường. Mưa vẫn rơi tầm tã. Tôi lao xuống. Khi nhìn thấy vết máu loang theo dòng nước trên mặt đường, người tôi mềm nhũn ra. Nước mắt tôi nhòa trong làn mưa. Đứa học trò nằm bất động bên cạnh là hộp quà bị chiếc xe vô tình cán bẹp dí.

    Do quá hoảng loạn và bị cảm lạnh do ngấm nước mưa nên mấy ngày sau đó tôi phải nằm viện. Đám tang của đứa học trò xấu số tôi không thể tham dự. Tôi đã khóc thật nhiều và tự dằn vặt bản thân mình thật nhiều. Sự kiện đau buồn đó trở thành nỗi ám ảnh đối với tôi. Sau lần ấy, tôi đã gần gũi và hiểu thêm nhiều về đám học trò kém may mắn của mình.

    Bây giờ tôi đã chuyển sang một chỗ làm khác và cũng không còn dạy học nữa. Thế nhưng, chiếc vòng đá - món quà sinh nhật bị cán vỡ đôi và cảm giác ân hận, hối lỗi sẽ còn đeo đẳng tôi đến hết cuộc đời. Nó luôn nhắc tôi hết lòng với những công việc mà mình đang làm. Tôi viết những dòng này mong em tha thứ cho tôi. Cầu cho linh hồn em yên ngủ nơi chín suối.