Bùi Tiến's profileTruongbtPhotosBlogListsMore ![]() | Help |
|
8/30/2008 Chuyện Đời của "TƯ" Thiệt cất tiếng ca: "Đêm đông gió bấc lạnh lùng người viễn khách
dừng chân nơi quán trọ nhìn cây trút lá trên hè vắng và lòng buồn mơ
quay về nơi dĩ vãng. Ôi những ngày thơ mộng đã qua không bao giờ tìm
thấy nữa..." Thiệt ca nức nở như những tiếng nấc nghẹn ngào. Đầu Thiệt nghiêng nghiêng bên tay đàn, những ngón tay buông bắt hấp tấp trên hàng phím trũng. Hết một câu, Thiệt gõ nhịp xuống mặt cây "ghi-ta" đã tróc sơn. Gian nhà trần, nền đất đập ẩm mốc. Ngọn đèn dầu lung lay treo ở cột trên đầu Thiệt. Trên cái ghế bố, ngoài Thiệt còn ba người khác: con Lai, chị Sáu và Tư. Lai nằm co gối đầu lên đùi Thiệt, chị Sáu hút thuốc lá, Tư ngồi thu ở đầu ghế. Xóm khuya dần và trận mưa tới. Bài ca dứt thì Tư cũng đã khóc. Con Lai cười: "Anh làm tiếp bản nữa nghe chơi". Chị Sáu nói: "Rầu thấy mẹ, lại mưa rồi". Tiếng hát của Thiệt lẫn trong tiếng mưa hiu hắt, khuôn mặt Thiệt xa lắc. Tư ghét con Lai, nó lớn tuổi hơn Tư, ngộ hơn Tư, lão luyện hơn Tư. Con mắt nó xanh, tóc nó hoe vàng, nó có phần máu Tây trong người. Chị Sáu đã già úa không còn ngực, mặt nghiền nặng. Tư muốn không còn hai người ấy để được một mình ngồi gần nghe Thiệt ca, những bài vọng cổ ấy thấm tận vào lòng Tư không bao giờ có được. Tư cũng muốn bắt chước "viễn khách" quay về tìm dĩ vãng nhưng dĩ vãng của Tư ở đâu? Ai biết? Năm nay Tư mới mười bảy tuổi, Tư mồ côi cha mẹ năm được bảy tám tuổi gì đó. Ở với cha mẹ nuôi rồi trốn đi năm mười lăm tuổi để làm điếm. Dĩ vãng đâu phải là những hình ảnh mà người ta không muốn nhớ. Tư ở ruột cho vợ chồng chị Sáu – cả hai người này đều ghiền – đi khách về đưa tiền cho chị Sáu, chị nuôi cho Tư ăn mặc. Khi Tư bị bắt, vợ chồng chị lo lắng cho Tư, còn hơn là cô thân trong trường hợp hoạn nạn. Lâu lâu chị Sáu cũng biết điều mua cho Tư chỉ vàng lúc dư dật. Chị Sáu cũng thương Tư, thỉnh thoảng chị an ủi hứa hẹn với Tư sẽ lấy Tư cho thằng con trai độc nhất của chị khi nó lớn lên. Năm nay nó mới có mười ba tuổi, giữ việc canh gác cửa ngõ. Tư chẳng có một ý nghĩ nào. Thiệt không ca nữa ngồi yên. Anh chẳng ngó Lai cũng chẳng ngó Tư. Bốn người không biết nói gì với nhau. Đầu xóm không có lấy một tiếng chân người. Lát sau chị Sáu nói: "Tư này, con Phương chết rồi mày biết không?" Tư lắc đầu. Con Lai lên giọng: "Ho ra huyết mà không chết sao được?" Chị Sáu chép miệng: "Tội nghiệp, nó lấy được thằng chồng tốt mà trời không cho hưởng". Chồng của Phương là một anh chàng khách trú làm thợ sửa xe hơi, đã ngủ với Tư một lần và có cho thêm Tư mười đồng bạc. "Anh ca nữa đi anh Thiệt". Con Lai kéo tay Thiệt ngồi xuống vì Thiệt muốn đứng lên. "Thôi mày ơi, ca cho mày nghe hoài tao ngán lắm". Thiệt lấy tấm áo mưa trùm lên người. Chị Sáu hỏi: "Đi đâu thế mày?" "Đi kiếm chồng cho mấy con này". Con Lai bảo: "Nè em bảo anh lên xin ca trên đài phát thanh được đó nghe". Thiệt mò mẫm tránh những vùng sình lội. Mưa giỏ giọt gianh. Trời có ánh sáng màu sương đục. Thiệt lách hàng rào của trại cưa vào trong. Cả cái xưởng lớn chỉ treo một ngọn điện nhỏ, máy móc nín thinh và gỗ xẻ nằm ngửa trên đất. Thiệt kiếm một cây gậy cầm tay chống rồi lại theo khe hở ra ngoài. Những khóm nhà lá nhấp nhô làm ngõ không thành lối. Ra đến lộ Thiệt đứng dựa núp sau một gốc cây. Tiệm cà phê ở đầu phố còn đông người. Thiệt đứng chờ đợi và chửa rủa trời đất. Còn lại ba người đàn bà trong gian nhà, Lai nằm dài chiếm cả cái ghế bố, Tư vẫn ngồi dưới chân Lai. Chị Sáu ra đứng tựa cửa hút thuốc lá. Chị Sáu hỏi Tư: "Hồi chiều mày có mua thuốc uống không Tư?" "Dạ, rồi". "Đúng tên thuốc không mày?" "Dạ đúng". "Phải coi chừng bịnh, khổ nghe con". "...Những dòng nước mắt cứ từ con tim đau khổ dâng lên nghẹn lời..." Phải, Tư cảm thấy đúng như câu ca của Thiệt hồi nãy. Con Lai đang nghêu ngao một mình: "Một mai thiếp có xa chàng, Đôi bông thiếp trả đôi vàng thiếp xin". Rồi nó kêu lớn: "Rầu thúi ruột chị Sáu ơi!" Chị Sáu gắt: "Mày cũng biết rầu sao mày?" "Trời ơi! Bộ tôi không là người sao chị". Con Lai nhỏm nửa người nói xong lại ngã xuống. Nó trêu Tư, nhái một câu "chuồn chuồn" trong tuồng "Hoa rơi cửa Phật": "Em Tư ơi! Ôi chưa đầy hai năm mà một vẻ đẹp thùy mị kín đáo đáng yêu trước kia nay đã biến thành một nạn nhân khốn khổ. Em Tư ôi! Tội tình chi mà... em phải... ơ... ơ... đọa... đầy". Con Lai khoái chí cười ngất. Tư òa khóc. Chị Sáu la: "Tư, bộ mày điên sao Tư?" Tư vẫn khóc, nước mắt ấm cả cổ họng. Con Lai cười, mắt nó nhắm hết lại: "Đồ quỷ, có im đi không, khuya rồi". Một lát chỉ còn tiếng thút thít của Tư, và Lai chuyển sang bản vọng cổ "Đêm đông gió bấc lạnh lùng" của Thiệt. Từ xa một người đàn ông đi lại, dáng thiểu não. Đến ngang chỗ Thiệt núp, người ấy bật quẹt châm thuốc không trông thấy Thiệt. Thiệt rút thuốc đến gần nói: "Thầy cho em xin chút lửa". Người khách bật cây quẹt khác cho Thiệt. Trông vẻ mặt khách dữ, Thiệt hỏi: "Có phải hồi hôm thầy dặn em đón thầy không?" Khách không trả lời, Thiệt tiếp: "Món này ngon lành lắm, em cam đoan thầy phải hứng. Lai mà". Khách ngần ngừ một phút khẽ gật đầu và theo chân Thiệt, Thiệt bắt đầu ngán sự im lặng của khách, nói: "Thầy coi chừng lội". Thiệt bỗng nghe tiếng hỏi sau lưng: "Phương còn ở đây không?" Giọng nói người miền ngoài. Thiệt yên bụng đáp: "Món này ngon hơn Phương mà thầy". Khách hỏi sang chuyện khác: "Xóm này chưa bị dỡ?" "Đông thêm thầy ơi! Dễ gì mà đi". Đất của xóm là đất của một hãng cưa máy nghiêng mãi xuống mé sông. Trại cưa bị xóm này vây bọc xâm lấn trông cũng tiều tụy. Chị Sáu ra cửa nghe ngóng. Thiệt và khách vào đến nơi đứng ở cửa. Con Lai ngồi dậy sửa lại đầu tóc. Tư cúi gầm đầu, mắt còn cay. Chị Sáu vồn vã: "Mời thầy vô". Khách vẫn đứng yên giữa cửa, người dong dỏng cao, khoác áo mưa xám nhà binh, đầu không chải, da mặt nhờn mồ hôi. Thiệt ra hiệu chỉ Lai cho khách. Khách không nói và nhìn chằm chằm vào Tư. Tư không cục cựa. Chị Sáu vội thúc: "Kìa Tư". Khi đứng lên thì người khách đã ra ngoài. Lai nhìn Tư căm tức. Lần thứ nhất Tư không ngờ đã thắng Lai. Tư thấy sung sướng. Chị Sáu đi trước dẫn lối, Tư đi gần khách phía sau. Tư hết khóc tỉnh táo, thỉnh thoảng liếc nhìn khách. Tư chẳng phân biệt được nét mặt. Càng vào sâu xóm càng tối càng yên tĩnh. Người khách phải cúi đầu qua những mái thấp. Căn nhà của chị Sáu gần mé sông. Thằng con chị Sáu đang ngủ trên bộ ván sát cửa vào. Nó choàng dậy khi nghe chị Sáu kêu: "Dậy mày, ra ngoài trông cửa". Gian ngoài hẹp thông sang nhà bếp chỗ chứa nước kê bộ tủ thờ và một bộ ván. Gian trong vuông vức kê một cái giường – của anh chị Sáu – kém một tấm "ri đô" bẩn thỉu. Khách ném áo mưa trên ván, Tư đi thẳng vào trong giường. Chị Sáu khóa trái cửa và cùng thằng con trai ra ngoài ngõ. Tư thấy ngọn đèn được vặn sáng lên và hình như khách ngồi xuống bộ ván ở ngoài. Không hiểu sao Tư không dám lên tiếng kêu. Tư nằm xuống giường lăn vào quay mặt vô vách. Nước trên cao đập vào những chân cừ ở dưới, mùi bùn nồng nồng. Tư ngủ quên trong vài phút ngắn. Tư tỉnh dậy nhẹ nhàng, người đàn ông nằm bên cạnh. Hắn ngửa mắt nhìn mái nhà im lặng. Tư e dè sán lại gần giúi đầu vào vai hắn. Người đàn ông quay lại với Tư, hỏi: "Em sợ anh phải không?" Tư gật đầu: "Việc gì mà sợ? Anh hiền không?" Người đàn ông ôm lấy Tư hỏi tiếp: "Em biết Phương không? Lần trước anh gặp Phương. Em hỏi Phương thì biết". Rồi người đàn ông hỏi tên của Tư, Tư đáp. Tư tin giọng nói ngọt ngào của người ấy. Mưa rào xuống trên sông, gió thổi tắt ngọn đèn, nhà tối thui. Người đàn ông hôn rất lâu trên môi Tư. Tư thở nhiều trong mũi. Khi Tư đã quen với hơi của người đàn ông, hắn bỗng nằm im và vuốt tóc Tư, nói: "Em giống như em gái của anh". "Hay em là em gái của anh". Tư nói rỡn. "Nếu em là em của anh thì anh đánh đòn". Tự dưng Tư thấy buồn. Tư hỏi: "Em gái của anh ở đâu?" "Ở ngoài Bắc với me anh". "Anh vô đây một mình?" Người đàn ông gật đầu. "Hồi nào?" "Di cư". Người đàn ông kể cho Tư nghe chuyện gia đình: "Em gái của anh ngoan lắm, anh hay ăn cắp tiền của nó, nó khóc. Nhưng khi nào anh không có tiền hỏi vay nó lại cho, chẳng bao giờ anh trả cả". "Đến bao giờ anh tính về ngoài ấy?" "Anh tính về?" – người đàn ông cười gằn – "Anh tính sao được, phải đợi thống nhất chứ". Tư không hiểu thống nhất là gì. Người đàn ông tiếp: "Nhưng anh không sống đến ngày ấy". "Anh chỉ nói bậy nào". Tư hôn vội lên môi người đàn ông vì không muốn nghe người ấy nói nữa. Khi Tư buông môi dựa tai vào ngực, Tư nghe giọng nói ở trong ấy: "Mai anh chết mất rồi". "Anh nói em sợ lắm". Người đàn ông ôm ghì lấy Tư và người Tư thu nhỏ lại. "Em ngoan lắm. Em ngoan như Phương vậy". Tư gỡ tay bạn, hỏi: "Anh biết Phương nhiều không?" "Một lần". "Phương lấy chồng rồi". "Tốt, rồi em cũng sẽ lấy chồng như Phương". "Phương vừa mới chết. Ho ra huyết". Người đàn ông nín thinh. Tư hỏi: "Anh hôn Phương không?" "Sao lại không?" Tư thành thật bảo: "Vậy mai anh phải về uống thuốc, ngừa bịnh đi". Người đàn ông bỗng nhiên cười dài, cười lớn vang động cả đêm khuya tĩnh mịch. "Cám ơn em, nhưng mai anh chết rồi còn đâu". Tư rùng mình sợ hãi. "Em biết anh đã hôn Phương, em còn dám hôn anh nữa không?" Tư choàng riết lấy lưng người đàn ông và hôn say đắm. Rồi Tư quờ tay sờ lên mái tóc ướt sũng của chàng. Những ngón tay của Tư lần theo viền mắt chàng đọng lệ. "Em thương anh". Tư thấy yêu đương bồng bột. "Thật sao? Tư". "Dạ". Đó là tiếng nói tự con tim của Tư. Giờ phút trôi qua và người yêu của Tư vẫn chưa trở về làm người khách. Chàng vẫn ôm ấp Tư như ôm đứa em gái. Mưa đã ngớt một cơn và bắt đầu một cơn mới. Tư hỏi: "Hồi nãy sao anh không đi với cô kia? Cô ấy đẹp hơn em". "Anh không cần đẹp, vả anh trông thấy em khóc". Tư nhõng nhẽo áp má vào má người yêu. "Anh muốn ở lại suốt đêm nay với em nhưng anh không có tiền để trả". Tư tủi lắm đáp: "Bốn trăm". "Anh còn trăm bạc cuối cùng". "Anh biết là em muốn anh ở lại với em, em thế nào cũng được. Nhưng em ở ruột cho chị Sáu, tiền chị ấy lấy em chẳng có quyền gì hết". Tư kể lể tình cảnh với người yêu và Tư khóc. "Giả tỷ em có tiền..." Người đàn ông vỗ về an ủi Tư, lấy tay lau nước mắt cho Tư, sờ trán Tư, chàng bỗng kêu lên: "Em đau?" "Không sao đâu anh". Tư sợ chàng sẽ hết yêu, vội nói. "Không phải, anh nghĩ là em phải uống thuốc cảm". "Em không có tiền". "Em biết là anh nghèo. Anh có bao nhiêu anh đưa hết cho em". Chàng trở dậy đốt đèn mang vào giường. Chàng dở ví soi lên. Cái ví da đen già cũ rách bươm không có một tấm ảnh nào. Chàng mỉm cười hỏi Tư: "Ví cũ quá hả? Của cha anh để lại cho anh, mấy chục năm đó". Chàng lục hết các ngăn dưới mắt Tư, chàng nói: "Một trăm độc nhất này để trả chị Sáu, còn lại của em tất cả là bao nhiêu, em đoán xem nào?" "Em không biết?" "Sáu đồng, sáu đồng đủ mua thuốc cảm". Tư cất sáu đồng bạc vào túi, chàng nằm xuống dặn: "Mai sáng nhớ mua thuốc ngay nghe không?" "Dạ". Chàng bỗng ngồi dậy nói: "A! anh còn để gia tài lại cho em. Em có thích không?" Tư ngơ ngác: "Một tấm vé số. Hy vọng là trúng". Tấm vé số gập làm tư giấu một ngăn kín. Chàng bảo Tư: "Tất cả hy vọng của anh đó. Anh cho em hy vọng của anh. Em sẽ trúng nghe không. Chỉ cần độ một trăm ngàn thôi. Em trả nợ độ mười ngàn, còn lại em ra mở tiệm làm ăn, lấy chồng, đẻ con và sung sướng". Tư hỏi lại: "Biết bao giờ em được sung sướng như vậy?" "Được chứ, mai anh chết rồi. Cái hy vọng của người chết cộng với cái hy vọng của em to lớn biết bao nhiêu. Anh chết để cho em trúng số. Em phải trúng nghe không?" Tư hỏi ngây thơ: "Anh chết thật? Tại sao anh chết?" Chàng cười: "Anh chết chứ. Chết cho em trúng số mà. Nếu anh không chết làm sao em trúng được". Tư không biết làm gì hơn là ôm người đàn ông vào gần mình. Tư nói: "Em nhớ mặt anh. Trúng số em đi kiếm anh". "Không thấy đâu, em ơi!" Tư khóc nức bất ngờ: "Anh chết thật sao anh?" "Anh chết thì em có mất gì đâu, đừng khóc nào, Tư". "Nhưng em muốn anh sống". "Ừ thì anh sống nhưng anh không bao giờ gặp em nữa cũng thế". Tư cứ muốn được nằm mãi, mặt úp vào cổ người yêu và mặt người yêu áp vào tóc Tư. Ngoài cửa có tiếng chị Sáu kêu: "Xong chưa Tư, sao lâu dữ?" Tư đáp: "Chưa, một chút nữa". Chàng bảo: "Thôi người ta đuổi anh đi rồi. Em có đuổi anh không?" Mắt Tư mờ đi sau màn lệ: "Không, em không đuổi anh. Em muốn giữ anh ở lại mà không được". Chàng mỉm cười: "Em gái anh ngoan lắm. Đến gần ngày mở số em nhớ dò cho kỹ nghe. Em phải trúng số". Tư níu tay người yêu: "Anh nằm nói chuyện với em thêm một lát nữa". Tiếng thằng con chị Sáu nói dóng bên ngoài: "Này, nó đang ruồng ở ngoài nghen". Có cả tiếng con Lai nói: "Du dương lâu vậy". Chị Sáu bảo Thiệt: "Mày đờn ca lên một khúc để chúng khỏi nghi mày". Thiệt dạo mấy cúng trầm nhất, lên giọng: "Ôi những ngày mơ mộng đã qua không bao giờ tìm thấy nữa, người viễn khách sau cuộc giang hồ phiên bạt đêm nay chỉ còn biết than khóc cho bao mộng đẹp tan vỡ...". Người đàn ông bảo: "Thôi cho xong đi". Tư nhìn trân trân người đàn ông cởi quần áo, nằm im không nhúc nhích. Chàng âu yếu cúi xuống cởi nút áo cho Tư. Tư vui sướng thấy mình không còn là một gái điếm vì Tư không tự mình làm lõa thể mình. Nhưng khi người đàn ông ôm lấy Tư thì Tư cố gắng nói: "Em có bịnh anh à". Chàng mỉm cười tha thứ nhìn vào mắt Tư, trong mắt chàng có cả sự âu yếm đủ cho một đời người. Chàng trở dậy chưa kịp nói thêm lời nào với Tư thì chị Sáu đã mở khóa lảng vảng ở gian ngoài. Chàng mặc quần áo đi ra, hình như chàng có nhìn Tư lần cuối nhưng Tư không trông rõ mắt chàng. Tư theo ra đứng nép bên cửa. Chàng đứng ngoài sân giữa chị Sáu và Thiệt, móc ví trả tiền cho chị Sáu. Tư bước vội ra vòng sau lưng chàng đi ra ngõ. Tư nghe chị Sáu nói: "Lần sau thầy đến chơi, đây là nhà của tôi". Tư ẩn vào ngách tối giữa hai căn nhà thấp. Tư nghe tiếng giày của chàng bước tới gần mình. Khi chàng đi ngang qua chỗ núp, chàng dừng lại châm thuốc lá, Tư khẽ gọi: "Anh". Que diêm chợp chờn. Tư thấy chàng mỉm cười. Tư vẫn không rời chỗ núp sợ chị Sáu bắt gặp. Tiếng chị Sáu kêu ở nhà: "Tư ơi! Con quỷ đi đâu mất rồi". Thiệt cũng kêu: "Tư ơi!" Chàng tiến lại gần ôm lấy Tư mà hôn, Tư dựa cả người vào vách nhà, muốn ngã quỵ vì yếu đuối. Chàng đặt vào tay Tư cái ví da đen: "Anh để nốt cho em cái gia tài của cha anh, trong ấy không có gì hết, chỉ có thẻ kiểm tra của anh. Em giữ để cất tấm vé số cho chắc. Nhớ nghe không, em phải trúng số nghe". Cái ví da đã mủn lép kẹp. Chàng bỏ đi không nhìn lại, dáng người cao cúi xuống. Tiếng chân của chàng đã khuất Tư linh cảm chàng chết thật. Chàng không nói rỡn. Tư cố gắng nhớ lại khuôn mặt chàng nhưng không được, hình ảnh mờ mờ tan thành khói, Tư cố gắng nhớ lại giọng nói của chàng như chỉ còn văng vẳng hơi gió trên sông. Tư nhét cái ví da vào bụng rùng mình lo lắng. Đến mai Tư sẽ không thể nhớ ra chàng được nữa. Tư khóc, không dám khóc thành tiếng. Nhưng một điều chắc chắn là trong bây giờ Tư đã có kỷ niệm. Tư đã có dĩ vãng để mỗi lần muốn nhớ Tư có thể gợi ra được. Chúc em may mắn, Tư ơi! Anh từ biệt. Tài Trí KỲ BÀ - Phong Kiến Đại Sư8/29/2008 HOA SEN GIỮA BỤI ÐỜI Mặc dù có một bà mẹ rất thuần thục trong niềm tin Phật, Nhạc Trọng, đứa
con một của người mẹ góa, vẫn chơi bời lêu lổng từ tấm bé. Mẹ chàng
trường trai, thờ Quan Âm Bồ Tát; nhưng chàng thì chỉ "thờ" một món rượu
thịt, luôn luôn chè chén say sưa. Bà mẹ vì quá yêu con, không bao giờ
cấm đoán ngăn cản chàng, hay ép buộc chàng theo đức tin của mình. Nhạc
Trọng được tự do, nhưng cũng rất thương mẹ mặc dù đường ai nấy đi - có
lẽ nhờ được tự do, mà chàng cành thương mẹ. Năm ấy, chàng được 30 tuổi,
bà mẹ thấy mình không còn sống lâu, muốn cưới vợ cho chàng để khi yên
bề gia thất, họa may chàng có bớt lêu lổng rượu chè. Bà hỏi ý, chàng
cũng bằng lòng cho vừa ý mẹ. Nhưng vừa cưới vợ về được một hôm, chàng
đâm chán ngấy một cách lạ lùng, và xin mẹ để cho nàng dâu về nhà, vì
chàng chỉ muốn tiếp tục sự nghiệp rượu thịt mà thôi. Thấy chàng nhất
quyết, bà mẹ đành chìu lòng, trả nàng dâu về với một lời xin lỗi, và
rất nhiều tặng phẩm. Từ đó Nhạc Trọng được tự do trở lại với nghiệp ăn chơi lêu lổng cố hữu của chàng. Một hôm, bà mẹ ngã bệnh nặng, hấp hối vào lúc nửa khuya. Do một tiền oan nghiệp chướng gì không biết, bà bỗng dưng khao khát được nếm mùi thịt nướng trước khi nhắm mắt, mặc dù đã trường trai mấy chục năm. Trước cảnh mẹ lăn lộn trên tử sàng, đòi thịt nướng, Nhạc Trọng bèn đi ra, xẻo ngay một miếng thịt trên bắp vệ của mình, bỏ thêm tiêu hành nước mắm nướng lên đem dâng mẹ. Bà mẹ vừa được miếng thịt thấm môi thì tắt thở. Nhạc Trọng chôn cất mẹ xong, thì gặp lúc trong nước có lễ hội Vu Lan. Thiện nam tín nữ họp thành đoàn thể đi dự hội, cùng để chiêm bái một pho tượng Quan Âm lộ thiên mới khánh thành ở một ngôi chùa trên núi xa. Nhớ đến mẹ sinh tiền thờ Quan Âm Bồ Tát, Nhạc Trọng cũng thu xếp lên đường dự hội. Nhưng vì suốt đời chàng chưa từng tham gia những đám rước, cũng không hề lui tới chùa chiền, nên Phật tử không ai biết tới chàng, nghĩ chàng có lẽ là một kẻ phá đám nên không ai cho gia nhập. Nhạc Trọng phải đi lùi ra sau xa, ngoài lề đám diễn hành. Những kẻ ngoài lề ấy gồm đủ hạng: dân bán cà rem, bán hàng rong, dân ghiền xì ke ma túy, gái điệm, con mồ côi, trẻ móc túi, bụi đời... Chàng phải đi trong bọn người này theo đuôi đoàn lữ hành. Chẳng bao lâu, chàng kết nạp được một cô gái làm bạn đường, đó là một gái điếm đã chán đường ong bướm, muốn tìm đến một nơi thiêng liêng để an nghỉ tâm hồn. Cả hai kẻ bụi đời kết bạn rất tương đắc. Họ kéo nhau vào quán rượu trước sự mỉa mai khinh bỉ của mọi người trong đoàn hành hương. Nhưng hai người không để ý, cứ tự nhiên gọi rượu thịt cùng nhậu nhẹt. Trong khi họ đàm đạo, thì một đứa bé mặt mũi sáng sủa trong đám trẻ bụi đời đến chìa tay xin tiền. Thấy thằng bé kháu khỉnh, chàng hỏi con cái nhà ai thì nó bảo không biết, mẹ chết, nó đang đi tìm bà con thân thích để gởi tấm thân. Vì hy vọng trong đám hội toàn quốc này thế nào cũng gặp được bà con, nên nó có mang theo bức thư tuyệt mệnh của mẹ nó. Nói xong nó liền móc trong túi găm kỹ một bao thư đã nhàu, màu mực đã phai. Ðọc xong bức thư, Nhạc Trọng mới té ngữa người ra: thằng bé chính là con của chàng! Chàng kể sơ cho cô bạn biết câu chuyện. Nghe xong cô tình nguyện đem đứa bé về ở với hai người. Cô sẽ nuôi nó cho đến khi khôn lớn. Nhạc Trọng bằng lòng, nhưng giao hẹn trước: - Chúng ta có thể sống với đứa bé dưới một mái nhà, nhưng tôi yêu cầu nàng một điều là giữa chúng ta chỉ có tình bạn. Và một khi tôi uống rượu say thì xin nàng hãy lánh mặt đi chỗ khác. - Ðược rồi. Ðó cũng là ý nguyện của tôi. Tôi chỉ muốn nuôi đứa bé này làm phước, và ở với anh cho có bạn mà thôi. Sau khi thỏa thuận, họ tiếp tục cùng nhau lên đường, dắt theo đứa bé bây giờ là con của họ. Gần đến chùa chỉ có đoàn hành hương mới được vào cổng, những kẻ ngoài đoàn phải dừng bước ở bên ngoài, ăn nhờ ngủ đậu trong các quán xá ven đường. Nhưng tượng Quan Âm lộ thiên rất lớn, hai người có thể trông thấy từ đàng xa. Khi đến gần, hai người bất giác sụp lạy. Chàng đảnh lễ tượng, trong lòng thiết tha nhớ đến mẹ ngày xưa. Nàng chiêm ngưỡng nét bình an trong sáng của pho tượng với cành dương như quét sạch bao ô nhiễm sóng gió trong cuộc đời. Nàng tìm thấy một niềm bình an tuyệt đối, và bất giác rơi lệ. Khi ngẩng lên thì với chàng, trên ngàn cánh sen có ngàn hình ảnh mẹ, với nàng, ngàn ánh mắt Từ bi đang nhìn suốt tâm can: kể từ đây, đời họ được an nghỉ. Sau khi chiêm bái trở về, họ sống chung dưới một mái nhà. Ngày ngày cô gái, Quỳnh Hoa, dọn dẹp nhà cửa chăm sóc, dạy dỗ đứa bé, Nhạc Trọng thì vẫn tiếp tục những cuộc rượu chè, nhưng dần dần thưa thớt, và chàng trở nên trầm ngâm, ưa cô tịch. Trải qua ba mươi năm như vậy, một hôm chàng gọi Quỳnh Hoa vào phòng riêng, một cử chỉ chàng chưa từng làm, khiến nàng rất đỗi ngạc nhiên. Khi nàng vào, Nhạc Trọng lại còn vén đầu gối cho nàng xem mà nói: - Mẹ tôi sắp gọi tôi về. Tôi muốn cùng nàng từ biệt. Ở cái chỗ chàng xẻo thịt cho mẹ, mọc lên một cục thịt hình hoa sen nở. Quỳnh Hoa lấy tay bóp những cánh sen lại mà bảo: - Chúng ta làm bạn với nhau đã 30 năm, anh không chờ tôi được sao? Nói xong, nàng thu xếp trở về quê cũ, bán vườn tược nhà cửa, tậu một số vốn để lại cho đứa con của chàng cưới vợ, rồi trở lại bảo chàng: - Bây giờ, tôi đã làm xong công việc. Cám ơn anh đã có lòng chờ tôi. Chúng ta sẽ cùng về với Phật. Mỗi người vào phòng riêng, ngồi xếp bằng chắp tay niệm Phật vãng sinh cùng một lúc. TRƯ HÒA THƯỢNG Ngày xưa, ở một ngôi chùa nọ, vị thiền sư trụ trì nuôi một con heo lâu
năm. Tuổi heo xấp xỉ tuổi đạo của nhà sư, và cả đại chúng kể từ vị tri
sự tăng trở xuống đều phải nhường heo về khía cạnh thâm niên nọ. Do đó
vị trụ trì đặt cho heo một biệt danh là Trư Hòa Thượng. Trư hòa thượng chỉ có việc ăn, nằm và bài tiết (để lấy phân bón cho vườn chùa) nên rất mập mạp đến không ngồi dậy nổi. Tuy nhiên mỗi khi tiếng hồng chung chùa vang lên vào chiều tối hoặc canh khuya, Trư hòa thượng đều cố ngóc đầu dậy một cách mệt mỏi. Nhân đấy mà thiền sư rất yêu mến Trư hòa thượng, thường chỉ cho chúng xem, bảo: - Các con thấy đó, loài súc sinh cũng có Phật tánh, chớ khinh thường. Một hôm thiền sư có việc phải đi xa vài hôm. Ngài cho họp chúng dặn: - Trong khi tôi đi vắng, lỡ Trư hòa thượng có viên tịch, thì các ông hãy cắt thịt, chia cho láng giềng mỗi nhà một miếng. Hãy nhớ làm theo lời dặn của tôi. Ðại chúng lấy làm quái dị về lời dặn của vị thầy, nhưng không dám hỏi, cứ vâng dạ lịnh tôn ý. Có lẽ họ nghĩ rằng thầy quá lo xa, Trư hòa thượng không bệnh hoạn gì, chưa chắc đến nỗi chết. Nhưng ngờ đâu thầy vừa đi vắng một hôm thì Trư hòa thượng ngã lăn ra chết. Ðại chúng bây giờ thật khó xử, nếu làm theo lời thầy dặn thì sợ đời dị nghị, nhất là trong khi vắng thầy. Lỡ người ta nghi chúng tăng nhân thầy không có nhà đã làm thịt con heo, rồi vì ăn không hết mà đem biếu thì sao? Thầy tri sự sau khi hội ý toàn thể đại chúng, quyết định đem mai táng Trư Hòa thượng sau vườn chùa, rồi thầy về sẽ sám hối sau. Khi thiền sư trở về, hỏi ra mới biết chúng không làm theo lời dặn. Ngài dạy: - Thế là các ông làm lỡ việc của ta rồi. Khi đại chúng thưa hỏi, ngài kể: - Trư hòa thượng chỉ còn một kiếp cuối cùng là giải thoát. Trong kiếp cuối ấy, Trư hòa thượng phải chết vì nạn "loạn đao phân thây". Nhờ có túc duyên mà Trư hòa thượng được thoát nghiệp ấy trong lúc sống. Nhưng định nghiệp không thể không trả. Do đó mà ta muốn giúp Trư hòa thượng trả xong định nghiệp bằng cách phân thây ông ta sau khi chết. Ðược vậy khỏi thọ sanh kiếp khác. Nhưng bây giờ vì các ông không làm theo lời ta, Trư hòa thượng sẽ phải luân hồi trở lại để trả cho xong định nghiệp. Ðại chúng nghe lời thầy dạy đều lấy làm hối hận. Ðại sư an ủi: - Không hề gì, rồi đây các ông lại còn duyên gặp lại Trư hòa thượng. Thời gian trôi qua nhanh chóng. Thấm thoát đã hơn 20 năm kể từ ngày Trư hòa thượng viên tịch. Một hôm, vị trụ trì mới, đệ tử trưởng kế vị thiền sư sau khi ngài viên tịch, tiếp đón vị quan huyện trẻ vừa tới nhậm chức tại địa phận chùa nhà. Quan đi quanh chùa thăm viếng tỏ ý lưu luyến như một cố nhân. Quan có cảm tình đặc biệt với tất cả đại chúng, và từ đấy mỗi lúc rãnh rỗi việc quan, ông lại tới chùa đàm đạo với chư tăng. Mối đạo tình đằm thắm ấy kéo dài một thời gian cho tới một ngày quan huyện bị triệu về kinh đô... Tin đồn quan huyện bị triệu về kinh đô vì một vụ án phản nghịch, và ngay sau đó bị đem ra chợ phân thây, được loan đi rất nhanh đến chùa. Chư tăng bàng hoàng sửng sốt, thương cho số phận quan huyện nhân từ, người bạn chí thiết của cả đại chúng. Tại sao một con người tốt như quan huyện lại phải chịu một cái chết thê thảm như vậy? Chư tăng ngậm ngùi tự hỏi. Nhất là vị trụ trì người kỳ cựu nhất ở chùa, người ngày xưa đã từng săn sóc Trư hòa thượng từ lúc tập sự xuất gia đến khi Trư chết, và bây giờ là người bạn thân của quan huyện, vị trụ trì buồn bã mất mấy ngày. Vào một thời tọa thiền, ngài bỗng thấy bóng quan huyện mỉm cười hòa nhã, và một âm thanh nhẹ như hơi gió thoảng bên tai ngài: - Tôi là Trư hòa thượng ngày xưa, xin đến vĩnh biệt thầy và tạ ơn tri ngộ. Vị trụ trì bàng hoàng dụi mắt, nhớ lại tất cả chuyện xưa nay. 8/28/2008 Hậu duệ bác Ba Phi
Đó là những câu chuyện có thật với những nhân vật huyền thoại ở vùng rừng U Minh như bác Ba Phi "nói dóc bà cố", ông thầy "điều rắn, khiển rít", ông thợ săn hổ lừng danh... Có người đã về với tiên tổ, có người còn lặng lẽ sống, nhưng tiếng vang của họ vẫn lắng sâu trong tâm trí nhiều người dân Nam bộ.Loạt ký sự sẽ đưa bạn cùng tìm về
gặp lại họ - những con nguời đã góp phần làm nên những câu chuyện cổ
tích thời hiện đại của đất rừng phương Nam.
"Lão dị nhân" đất rừng
“Lão trông rất cổ quái. Tóc bạc trắng cứ dựng đứng lên. Mắt đỏ khè như mắt rắn. Hai chân cụt tới đầu gối. Bàn tay cũng dị tật, ngón có ngón không. Nhưng tài trị rắn thì số một miệt U Minh”.
Một đời làm thuốc rắn cứu người, danh sách bệnh nhân của ông Chín
Lẻo đến nay có lẽ phải viết ra mấy cuốn vở học sinh mới hết. Ông kể mới
hôm rồi ông Hai Thọ, cán bộ Lâm trường 30-4, phát cành chuối khô bị rắn
hổ bướm mổ ngay cổ tay phun máu thành tia. Tuy nhiên, Hai Thọ vẫn bình
tĩnh chặt đứt đôi con rắn, cầm khúc đầu chạy cầu cứu thầy Chín Lẻo. Ông
ngó qua con rắn chỉ bự bằng cẳng cái nhưng đang có chửa nên rất độc,
khen Hai Thọ bình tĩnh như vậy là giỏi. Người săn hổ cuối cùng
Ở rừng U Minh ngày nay vẫn thường nghe kể chuyện những thợ săn huyền thoại ở miệt "xuống sông sấu bắt, lên rừng cọp tha" này.Nhiều người trong họ nay đã gối đầu về với tiên tổ. Nhưng vẫn còn một
thợ săn hổ lừng danh ngày nào đang lặng lẽ sống ẩn dật với bao kỷ niệm
rừng thiêng nước độc U Minh khó quên. Thầy đìa miệt rừng
Tay lái cá đứng nhíu mày. Anh ta có kinh nghiệm dò cá để thầu đìa, nhưng chưa thật yên tâm với cái giá thách của chủ đìa. Một thầy đìa ở xóm được mời đến, nhờ đoán giùm. Chỉ nhìn lướt qua mặt đìa, thầy đìa thọc tay rờ rờ bờ đìa chìm dưới nước, rồi áp tai xuống đất, nín thở nghe ngóng.
Thầy đìa Năm Điệt sinh ở rừng U Minh. Nhà có tám anh em đều rành rẽ
nghề cá như thuộc lòng các ngón tay. Đặc biệt, người em Sáu Tặng cũng
“thần sầu” trong các ngón dò cá. Giống như người anh, ông có thể không
lại gần đìa mà đứng ngó từ xa cũng biết đìa ít hay nhiều cá. Sáu người
con của ông Sáu Tặng tiếp nối nghề cha, lấy tài bắt cá mưu sinh. Đoàn Phong NgạnVề U Minh, tôi lân la hỏi chuyện ông tổ gác kèo ong xứ này nhưng chẳng mấy người rành rẽ. Những lão nông tri điền 70-80 tuổi tóc bạc phơ cũng chỉ có thể kể khi họ mới biết lẫm chẫm chạy đã thấy tía, ông cầm bùi nhùi vào rừng "ăn" ong rồi. Nghề gác kèo, "ăn" ong xưa cũ bây giờ vẫn đang phát triển mạnh ở rừng U Minh, người ta thường đặt tên cho những người làm nghề này là "đoàn Phong Ngạn".Một lần "ăn" ong
Bận nhỏ Hai Rớt tóc còn để chỏm đã biết chèo xuồng theo ông nội tập
tành gác kèo. Chưa đầy 16 tuổi ông đã rành nghề rừng này. Đời con lại
nối nghiệp tía. Ba người con Nguyễn Thanh Đề, Nguyễn Thanh Trung,
Nguyễn Châu Phi hiện cũng thạo ngón nghề gác kèo ong rừng. Hai Rớt được
chòm xóm tin tưởng bầu làm trưởng Tập đoàn Phong Ngạn 2 ở huyện U Minh
với 29 tập đoàn viên. 8/27/2008 KHÔNG RƯỢU MÀ SAY - Phong Kiến Đại Sư Vào một buồi chiều tịnh mịch ở Kỳ viên tinh xá, sau khi giảng pháp cho
chư tăng và cư sĩ khắp nơi tụ về, Ðức Thế tôn vào Hương thất an nghỉ.
Vừa đặt lưng xuống, Ngài bỗng nghe tiếng đập cửa thình thịch và tiếng
khè khè của một gã say rượu thừa lúc cổng mở, đã lẻn vào tinh xá. Hắn
vừa đập cửa vừa gọi: - Ông Phật đi, ông Phật! Cho tui làm Phật với! Tui cũng muốn ... làm Phật! Khà khà! Bộ chỉ mình ông làm Phật được mà thôi à? Há? Ðức Thế tôn ngồi dậy ra mở chốt. Thấy gã say dơ dáy, y phục tả tơi, Ngài động lòng trắc ẩn gọi thị giả A Nan: - Này, A Nan, ông tắm rửa, cạo tóc và cho nó một cái y sạch. Rồi tìm chỗ cho nó nằm nghỉ. A Nan vâng lệnh. Sau khi tắm rửa sạch sẽ, cạo tóc đắp y, gã say được đưa đến một gốc cây im mát trong tinh xá. Gã đánh một giấc ngon lành cho đến sáng hôm sau. Khi tỉnh dậy, hắn bỡ ngỡ nhìn quanh thấy toàn thầy tu mặc áo vàng đi bách bộ, dòm lại mình cũng đang đắp y, sờ đầu nghe trụi lũi, hắn kinh hoàng không biết mình là ai, vội vàng bỏ chạy một mạch ra phía cổng. Các tỳ kheo đuổi theo bắt lại. Nhưng một số khác biết chuyện, ngăn bạn: - Này, chư hiền, để cho hắn chạy. Hắn chỉ là một gã say, hôm qua Thế tôn bảo tôn giả A Nan tắm rửa cạo tóc đắp y vào cho hắn đấy. - Thật Thế sao? Tại sao đức Thế tôn làm chuyện lạ nhỉ? Biết hắn say mà vẫn độ cho hắn xuất gia? - Hãy để hắn đi cho khuất, rồi chúng ta sẽ đến thỉnh giáo đức Thế tôn về việc này. Thế là họ kéo nhau đến Hương thất đức Phật, bạch hỏi: - Bạch đức Thế tôn, chúng con không hiểu vì nguyên nhân gì Ngài lại độ cho một gã say như thế? Xin Ðấng Thiện Thế giải rõ cho chúng con. - Này các tỳ kheo, các ông dường như trách ta vì đã độ cho một gã say. Nhưng ta hỏi các ông, trong lúc hắn say, tại sao không cầu chuyện gì khác, mà lại cầu làm Phật? Như thế là hắn đã gieo một cái nhân tốt đẹp, ta phải giúp duyên cho hắn, vì ta không hẹp gì mà không cho hắn làm Phật. Vả lại, có bao nhiêu người "tỉnh" biết cầu làm Phật như hắn? Vậy thì ai tỉnh, ai say? Huống chi, hắn có nhậu rượu vào mà say, thì bất quá chỉ say vài tiếng đồng hồ rồi tỉnh lại. Cho nên, bệnh say của hắn, ta không cho là trầm trọng. Trái lại, biết bao kẻ trên thế gian này, dù không uống rượu mà vẫn say, không phải say vài tiếng đồng hồ như hắn, mà say muôn kiếp ngàn đời chưa tỉnh. Cái bệnh say đó, say trong vô minh ái dục, Ta mới gọi là một chứng bệnh trầm kha! TRÁI TIM CỦA MẸ - VẠN KIM BÔI Ngày xưa, có một cậu bé ở với mẹ trong một túp lều ven rừng. Ngày ngày
cậu đi vào rừng hái củi bán để nuôi mẹ. Mẹ cậu ở nhà nấu cơm, vá áo,
chăm sóc những luống rau. Hai mẹ con sống nghèo nàn hẩm hút, nhưng
không kém vẻ đầm ấm, bởi vì tình thương của mẹ vốn đã là điều kiện cần
và đủ cho một con người. Nhưng cậu bé lớn dần và bắt đầu đi xa hơn trong những buổi kiếm củi. Hồn cậu cũng bay xa hơn trong những mộng ước, mong chờ. Cho đến một chiều nọ, trên đường hái củi cậu bắt gặp một bóng hồng thiếu nữ bên suối biếc. Kể từ hôm ấy, bát cơm nguội trên tay mẹ âu yếm đưa cho cậu ăn đỡ đói lòng mỗi khi trở về, không còn hương vị nữa. Cậu bắt đầu tiếc nhớ bâng khuâng, người trở nên thờ thẫn, mất hồn. Bà mẹ lo lắng hỏi han, cậu gắt gỏng với mẹ. Tình yêu hay đúng hơn, sự mê gái, đã làm cậu lú lẫn mê muội rồi. Mẹ càng chăm sóc ân cần, cậu càng khó chịu, muốn bỏ nhà ra đi... theo bóng hồng bên suối biếc. Ối, phải chăng nàng là tiên nữ giáng trần? Cậu cảm như chưa bao giờ thấy một người con gái đẹp đến thế. Mỗi đáng vẻ, động tác của nàng đều làm cho cậu mê mẩn tâm thần: Trúc xinh trúc mọc bờ ao Em xinh, em đứng chỗ nào cũng xinh. Huống chi nàng lại đứng bên bờ suối phận chiếu ánh trời chiều long lanh với muôn màu sắc: màu xanh của mây, màu vàng, đỏ, tím của hoa rừng, màu lục biếc của cây lá ...Giữa thiên nhiên kỳ tuyệt ấy, nàng nổi bật như một đóa hoa vương giả khoe tươi. "Thầm yêu trộm nhớ bấy lâu đã chồn"... Thanh niên đánh bạo đến gần người đẹp. Thiếu nữ vừa trông thấy cậu đã khóc òa: - Chàng ôi! Thiếp không còn sống được bao lâu nữa nếu .... Giọng oanh vàng nấc nghẹn. Thanh niên hỏi dồn: - Tại sao, tại sao, nàng hỡi! Tôi sẽ làm bất cứ gì để đem lại sự sống cho nàng, dù có phải mất mạng. Thiếu nữ mở lớn đôi mắt bồ câu xinh: - Thật không, ồ xin chàng hãy cứu thiếp! Thiếp đau bệnh nan y, thầy thuốc bảo chỉ có nuốt vào mình trái tim nóng hổi của một người mới tắt thở, họa may hết bệnh. Nếu chàng cứu thiếp, thiếp xin hứa sẽ trọn đời sửa túi nâng khăn. - Xin nàng hãy đứng chờ. Thanh niên chạy như bay một mạch về túp lều. Bà mẹ tựa cửa trông con, trong chỗ tranh sáng tranh tối, cậu va cái cốc vào đầu mẹ. Tiến thể, cậu rút ngay con dao ở vách lều, thọc vào ngực bà, moi ra trái tim còn nóng hổi. Cậu bưng trái tim mẹ hối hả chạy ngược trở lại bờ suối. Mặt trời đã lặn khuất sau đồi. Bóng lá cây đen dầy che rợp lối đi. Ba bốn lần cậu suýt vấp ngã vì vội vàng hấp tập. Bỗng nghe một tiếng nói hiền từ đâu đây vọng lại: - Con ơi, chạy chậm bước lại kẻo té, con ạ! Cậu giật mình đứng lại ngơ ngác nhìn quanh. Nhưng cậu chợt hiểu. Thì ra tiếng nói kia vang lên từ trong hai lòng tay cậu, từ TRÁI TIM CỦA MẸ! Gã làm thuêGã ngồi tựa vào gốc cây xà cừ nhìn đường phố. Đang giờ người ta đi làm, đường phố đông nghẹt người. Mà sao bây giờ họ lắm tiền nhiều của thế, xe máy ô tô ken vào nhau nghẽn tắc cả đường. Toàn là loại xe sang trọng. Ô tô xịn, xe máy cũng toàn loại xịn và đắt tiền. Nghe nói những cái xe máy bọn choai choai đang cưỡi kia, có cái đến cả trăm triệu đồng, đời gã có nằm mơ cũng chả bao giờ dám mơ tới. Gã chỉ ước gì mua được một các xe đạp tốt cho con gái đi học. Gia tài đáng giá nhất nhà gã chính là chiếc xe đạp sét gỉ gã đang dựa ở gốc cây này. Cái xe mà khi còn ở quê, buổi sáng con gái dùng đi học, buổi chiều gã dùng đi thồ gạch. Bánh xe được gia cố thêm mấy thanh sắt làm nan hoa để khi chở nặng khỏi bị gãy vành. Khi lên thành phố làm thuê, gã đem theo cái xe đạp để chuyên chở đất thải, con gái gã phải đi bộ tới lớp. Từ nhà tới chỗ nó học cũng phải gần bốn cây số... Gã chợt thấy đói cồn cào. Từ hôm qua đến giờ gã chưa có gì cho vào cái bụng lép kẹp. Tối hôm qua lẽ ra thì gã đã có một bữa ngon lành. Bởi mấy ngày vừa rồi gã “may mắn” được một ông thuê phá dỡ hai gian nhà cấp bốn. Đây là mấy gian nhà ông này làm cho mẹ ở. Khi bà cụ mất, ông ta liền phá đi. Gã được ông ta thuê đến thuê phá dỡ, giải phóng mặt bằng lấy để làm nơi treo hoa phong lan và bày cây cảnh. Gã biết, ông này là một cán bộ cấp bự. Làm quan to nên ông đón mẹ từ quê lên phụng dưỡng. Bà mẹ già mắt mờ, chân chậm, lại vốn dĩ là nông dân tần tảo vất vả cả đời nên về già ốm yếu, bệnh tật. Bà cụ sinh hạ được mỗi ông ta là con duy nhất. Chồng chết, cụ ở vậy nuôi con, lần hồi sới đất lật cỏ kiếm từng xu từng hào cho ông ăn học nên người, lam quan chức to nhất vùng. Dân làng thấy ông đánh ôtô về đón mẹ lên thành phố, ai cũng trầm trồ khen ông có hiếu. Bà hàng xóm cứ nức nở mãi: “Thế mới đáng là con cái chứ! Đúng là đẻ con khôn mát... rười rượi, chả bù mấy thằng giặc nhà tôi phá gia chi tử...” Ông bán hết nhà cửa, ruộng vườn rồi đưa mẹ ra đi trong sự thán phục của cả làng. Lên Hà Nội, bà cụ vẫn
quen lối sống tùy tiện thoải mái như ở quê. Bà cụ nhai trầu bỏm bẻm
suốt ngày. Nước cốt trầu vương vãi trên salon, và nền phòng khách được
lát bằng gỗ quý khiến vợ ông rất khó chịu. Bà vợ ông càng bực bội mặt
nặng, mày nhẹ mỗi khi ăn uống cụ làm rơi vung vãi cơm, đổ cả canh ra
bàn ăn. Ông cán bộ nọ cũng nhiều phen phát bực vì bà cụ làm cho phát
ngượng do mấy lần có khách hỏi thăm, cụ cứ rỉ rả kể lại mãi chuyện quê,
chuyện ngày xửa ngày xưa nuôi con vất vả, chuyện ông bíếng học hay chơi
bời lêu lổng. Có lần ông đã quát mẹ khi khách vừa mới ra khỏi cửa khiến bà cụ tủi thân cứ sụt sịt mãi. Còn bà con dâu và thằng cháu đích tôn thì thường xuyên trì triết, hạch sách mỗi khi cụ làm đổ nước hay rớt bã trầu ra sàn nhà. Bà cụ buồn lắm. Suốt ngày lầm lì như cái bóng trong căn biệt thự sang trọng. Khi con cháu đi vắng, cụ muốn mở tivi nghe dân ca cho đỡ buồn. Nhưng con dâu sợ làm hỏng tivi nên đã rút mất phích điện. Giá như còn ở quê, cụ sẽ sang nhà bà hàng xóm cùng nhau giã trầu hay tuốt rơm nếp để tết chổi. Còn ở đây giữa chốn nhà cao cửa rộng nhưng cổng khóa, then cài, cụ như bị giam lỏng. Bà cụ muốn trở về quê nhưng đâu còn nhà cửa mà về. Một lần cụ bảo: “Hay cho mẹ về quê, ở đây mẹ thấy không hợp!” Ông con trai đã gạt đi: “Mẹ về quê thì ở vào đâu, nhà đã bán mất rồi!” Còn bà con dâu nói mát: “Sướng lại chả muốn!” Thằng cháu đích tôn thì lấc cấc: “Cụ về quê lấy ai khuya sớm phụng dưỡng tuổi già!” Mặc dù từ ngày đón mẹ ra ở cùng bao nhiêu phiền nhiễu nhưng con trai, con dâu chẳng bao giờ muốn cho mẹ về quê. Với họ không phải vì đã trót bán mất ngôi nhà của tổ tiên để lại. Chỉ cần vài ba chục triệu là họ thừa sức mua đất và làm cho mẹ căn nhà khác ở quê. Nhưng họ còn mặt mũi nào. Đã được tiếng là hiếu thuận thì phải giữ chứ với lại còn uy tín của ông, của bà trước cơ quan nữa. Thời buổi này cái ghế của ông không ít kẻ nhòm ngó, sơ sảy một tý, sụt giảm uy tín một chút là hỏng ngay. Hơn nữa để bà cụ ở Hà Nội cũng có thêm một nguồn thu đáng kể. ấy là khi tổ chức mừng thọ cho cụ, dịp tết nhất và cả những khi cụ trái gió trở trời ốm đau anh em trong cơ quan, những người được ông bà nâng đỡ sẽ đến chúc mừng, hay thăm hỏi và đều có quà cáp. Quà thì đâu chỉ có cân đường, hộp sữa, nải chuối hay chục trứng gà như ở quê mà là phong bì dày cộp trong để toàn tiền mệnh giá lớn hoặc đôla. Khi thấy để mẹ ở nhà trên gây nhiều phiền phức, ông bàn với vợ làm hai gian nhà cấp bốn ra góc vườn đưa bà xuống đấy ở. Bà vợ ông sốt sắng đồng ý ngay. Thế là bà cụ chỉ còn được lên nhà trên mỗi khi mừng thọ hoặc ngày tết và lúc nào đau ốm để cho mọi người trong cơ quan con trai con dâu đến chúc mừng, hoặc thăm hỏi. Những người đến thăm hỏi, chúc mừng bà cụ chẳng qua chỉ là cái cớ. Họ đến để cống nộp là chính. Bà cụ đã trút hơi thở cuối cùng vào một đêm mưa gió trong ngôi nhà cấp bốn ẩm thấp nơi góc vườn. Ngay trong đêm, thi hài cụ đã được di chuyển đến quàn trong phòng lạnh của một nhà tang lễ lớn nhất thành phố. Tại đây cụ được tổ chức tang lễ thật trọng thể. Có rất nhiều đoàn đến viếng. Người làng trong đoàn của địa phương lên dự lễ tang ai cũng nể phục. Vòng hoa nhiều vô kể, không thể đếm nổi. Chẳng có kèn trống như ở quê. Không có các vị sư sãi, các vãi già đến đọc kinh, chèo đò để người chết được siêu thoát được sang Tây Thiên với Phật. Quan tài cụ được xe tang đưa thẳng ra đài hóa thân hoàn vũ, ấn nhẹ công tắc điện một cái là đã thành mây khói, chút tro cốt còn lại được cho vào lọ. Thế là xong. Việc này chắc khi con sống bà cụ đã từng nghĩ đến. Cụ sợ lắm. Cụ rất muốn về quê có chết thì về với ông bà ông vải gặp lại mấy bà bạn cùng tuổi đã đi trước nhưng ông con thì không chịu. Sau đám tang, ông con trai nghĩ ngay đến số tiền phúng viếng, nhẩm tính sơ sơ cũng đủ mua một cái xe ôtô mới tương đối xịn. Và việc ông phải làm đầu tiên là cho phá ngay căn nhà cấp bốn góc vườn. Gã làm thuê được gọi đến. Biết sự tích của căn nhà, gã cũng thấy bùi ngùi. * * * Gã làm thuê bắt đầu phá dỡ dần từng phần căn nhà cấp bốn. Gã cố để lại một góc để ở tạm mấy hôm. Vì buổi tối gã mới có thể thu dọn đống vôi vữa, gạch vụn rồi dùng xe đạp thồ chở ra đổ trộm ngoài bờ đê. Ban ngày mà chuyên chở những thứ này thì sẽ bị công an tóm ngay, với lại muốn đổ trộm những thứ phế thải ra bất cứ chỗ nào cũng đều phải đợi khi đêm đến. Ông chủ nhà dặn gã làm ăn phải cẩn thận kẻo ảnh hưởng đến ông ta. Gã vâng vâng dạ dạ để ông ta yên tâm. Sau khi phá nốt góc căn nhà cấp bốn, nơi mấy đêm vừa rồi gã chừa lại lấy chỗ ngả lưng sau những chuyến chở phế thải đi đổ ngoài bờ đê, gã rụt rè lên phòng khách ngôi căn biệt thự gặp ông chủ. Nhìn nền gạch hoa và gỗ bóng loáng gã cứ xoa mãi hai bàn chân mà không dám bước vào. Ông chủ nhà hất hàm hỏi: - Đã xong xuôi cả chưa? - Thưa bác chỉ còn một xe đất thải cuối cùng tối nay cháu sẽ chở đi và xin phép bác đi luôn ạ! - Vậy thanh toán tiền công hả? - Vâng! Nhưng cháu cũng có việc xin báo với bác... Gã vừa nói vừa móc trong túi cái quần bộ đội cũ ra một gói ni lông được chằng buộc bằng những cái dây chun rất kỹ đưa cho ông chủ nhà. - Cái gì đây? - Dạ! Cháu tìm thấy nó khi phá chỗ góc nhà lúc chiều. Chắc là của bà cụ cất giấu. Là vàng và tiền ạ... - V...à...n...g... h...ả...? Ông ta gần như giật phắt cái gói từ tay gã nhanh như một con chim cắt chộp mồi. Chẳng nề hà cái gói ni lông đầy bụi bẩn và dính nước cốt trầu đen xỉn. Ông lập cập mở ra. Trong gói có một đôi hoa tai, một cái nhẫn vàng và một cuộn toàn tiền lẻ độ vài trăm nghìn đồng. Nhưng lại có hai tờ một trăm đôla cuộn bên ngoài. Đây chắc là của người nào đó mừng tuổi bà cụ hôm tết mà ông không biết để thu hồi. Ông hất hàm hỏi gã làm thuê: - Chỉ có thế này thôi à? - Vâng ạ! - Có đúng thế không? Gã làm thuê thấy mình bị xúc phạm. Gã khinh bỉ nhìn ông chủ nhà. Gã đã quá thật thà đem trả lại toàn bộ số tài sản tìm thấy thế mà không được một lời cảm ơn lại còn bị nghi ngờ. Gã định bỏ đi nhưng ông chủ nhà gọi giật lại: - Thằng kia đứng lại, tại sao mày không trả lời tao? Nghe tiếng ồn ào ngoài phòng khách bà chủ nhà và thằng con chạy ra. Biết chuyện bà chủ chu chéo: - Thôi chết tôi rồi! Cho bà ấy ăn mặc đầy đủ thế mà bà ấy còn lén lút cất giấu tiền của. Mà thằng kia, mày còn giấu giếm cái gì ở đâu không hả... Mấy đêm vừa rồi mày chở bao nhiêu chuyến đi rồi. Nó đem cái gì ra ngoài ông có biết không... Ông phải gọi công an đến khám xét, tra hỏi thằng này ngay cho tôi... -Bà im đi, để tôi hỏi nó, gọi công an có mà... Thằng con cầm cái nhẫn vàng của bà nội giơ lên lật đi lật lại xem xét rồi nói nhỏ với bố: -Thằng này để con xử lý mới được! * * * Lẽ ra gã đã đi khỏi cái nhà này ngay sau khi bị ông chủ nhà xúc phạm nghi ngờ gã bớt giấu tiền vàng tìm thấy khi phá dỡ căn nhà cấp bốn. Nhưng vì chưa được thanh toán tiền công nên gã chưa đi được. Khi gã đang đang chuẩn bị ăn cơm thì thằng con ông chủ dẫn theo một thằng nữa mặt mũi vẻ hung hãn ra chỗ góc vườn. Hai thằng đạp đổ nồi canh đầu cá đang nấu và dí dao vào cổ gã làm thuê. Giọng chúng sực mùi rượu: “Mày giấu tiền, vàng nhà tao ở đâu!!!” Gã nhìn hai thằng côn đồ với vẻ mặt coi thường. Chỉ cần một cái vung tay của gã thì hai thằng oắt con này chết sặc gạch, không kịp ngáp. Nhưng gã không thèm chấp lũ vô lương. Gã bảo: - Không có tiền vàng nào hết! Có bao nhiêu đã đưa ông chủ cả rồi. - Vẫn còn! Khôn hồn thì nôn ngay ra! - Đưa hết rồi! - Hết... rồi... à...? Mũi dao trong tay thằng
con ông chủ nhích thêm một tý. Máu từ cổ gã rơi xuống ngực áo. Đã thế
thì... Bằng một động tác quét chân và vung tay của gã, hai thằng côn đồ
đã văng ra xa mấy mét. Chúng lồm cồm bò dậy vung dao định xông vào. Mẹ
kiếp! Bọn này muốn chết thật rồi. Gã chợt nhớ lại bữa hai tên lính ngụy
cũng từng cầm dao găm lao vào gã như thế này trong một trận đánh khi gã
còn là lính của một đơn vị đặc công. Bọn khốn này chắc cũng muốn số phận giống như hai tên lính ngụy ngày nào đây. Hai bàn tay gân guốc của gã vo lại thành hai nắm đấm. Giữa lúc ấy thì ông chủ nhà xuất hiện vội vã ngăn lại. Thực ra ông ta đã theo dõi vụ việc “xin tý tiết” của thằng con ngay từ đầu. Ông bảo: “Thôi để nó đi đi...” Gã làm thuê ném cái nhìn khinh miệt vào cái bản mặt phì phị của ông chủ nhà. Gã nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống đất, hất trả lại bao vôi vữa phế thải rồi dắt chiếc xe đạp ra khỏi ngôi biệt thự. Trở về chỗ “chợ người” đầu đường Hoàng Quốc Việt, gã ngồi dựa gốc cây xà cừ ngủ gà ngủ gật bởi mấy ngày đêm mệt mỏi phá nhà, chuyển phế liệu.Khi gã đang mắt nhắm, mắt mở nhìn dòng người nườm mượp trên phố thì có tiếng gọi: “Ê! Phụ hồ có đi không?” Sao lại không! Gã nghĩ đã là kiếp làm thuê còn kén chọn gì nữa. Gã vội đạp xe theo mấy đứa cùng bọn chuyên đi bán sức ở thành phố. Cả bọn hì hục gánh cát, bê xi măng, trộn hồ, xách vữa leo lên giàn giáo. Lên lên xuống xuống, chân gã bủn rủn, bụng đói cồn cào. Đầu óc gã trống rỗng. Lúc vác bao xi măng leo lên tầng, gã cứ lâng lâng như đi trên mây. Đột nhiên, gã thấy mình chơi vơi như bay vào khoảng không vô định... Gã tỉnh lại và giật mình thấy đang nằm trong bệnh viện. Một cánh tay gã cuốn băng, nẹp cứng treo lên cổ. Gã hốt hoảng nhỏm dậy ngơ ngác nhìn quanh. Cô y tá bảo gã bị ngã giàn giáo được mấy người cùng làm đưa vào viện. May gã chỉ bị gãy tay. Gã bị ngất là do đói quá. Gã chán nản nằm xuống giường. Thế là ky cóp được mấy trăm nghìn đồng cũng chả đủ nộp viện phí. Mấy ngày vừa rồi làm việc cật lực mà chẳng được đồng tiền công nào lại bị bố con ông cán bộ nọ vu cho là ăn cắp. Gã chợt nghĩ: “Biết trước bố con nó bất lương thế thì đừng trả lại số tiền vàng ấy còn hơn”. Nhưng rồi gã lại gạt ngay cái ý nghĩ ấy bởi vì những thứ của cải không phải của mình có chết gã cũng chẳng màng. Gã phải nhắn anh bạn cửu vạn cùng làng đến vay thêm để thanh toán viện phí. Tay gãy thế này có lẽ gã đành trở về quê ăn bám vợ thôi. Nghĩ đến vợ, gã lại thấy bồn chồn trong lòng. Vợ gã biết xoay xở thế nào đây. Vợ gã vốn là người ốm yếu chẳng làm được việc gì nặng. Tính gã gia trưởng, không vừa ý là quát tháo, bạt tai vợ con ngay. Gã làm hùng hục suốt ngày như trâu húc mả thế mà nghèo vẫn cứ nghèo. Đi làm thì thôi về đến nhà nhìn căn nhà trống huếch, trống hoác, mẹ ốm nằm một giường, vợ ốm nằm một góc là gã lại muốn phát điên lên. Vợ gã là một người đàn bà luôn hết lòng vì chồng con. Suốt đời thị cam chịu. Chưa bao giờ gã thấy thị kêu ca, phàn nàn dù có thiếu thốn, đói khổ, kể cả những khi biết chuyện gã kiếm được tiền, ngán cảnh vợ ốm yếu mò lên tận thị xã chơi gái. Đến bữa ăn, có miếng nào ngon thị cũng dành cả cho mẹ và chồng con. Có lẽ cả đời gã sẽ chẳng bao giờ quên chuyện một lần sau bữa ăn ngon miệng, gã xuống bếp tìm cái bật lửa để châm điếu thuốc. Gã bất chợt bắt gặp cảnh vợ gã đang lén gặm lại cái xương gà của con bé gặm dở lúc nãy. Làm thịt một con gà giò, thị gắp miếng thì cho mẹ, miếng thì cho chồng, miếng cho con. Còn thị suốt bữa chỉ gắp toàn rau cho mình. Sau bận ấy, gã thấy thương vợ hơn, đỡ mắng chửi quát tháo mỗi khi bực dọc. Gã định ra Hà Nội làm thuê chuyến này cố ky cóp để mua cho con gái cái xe đạp đi học, mua cho vợ bộ quần áo. Mấy năm nay gã thấy thị chưa có một bộ quần áo nào cho ra hồn. Thế mà bây giờ mọi dự định của gã đều tan thành mây khói. Gã tập tễnh dùng một tay dắt chiếc xe đạp lọc cọc ra ga để lấy vé về quê. Trời lất phất mưa. Đã cuối mùa thu. Một cơn gió lạnh bất ngờ thổi tràn trên phố. Thèm... hôn"Trời đất ơi!.
Lâu quá rồi, không hôn một em gái nào!" Giữa bàn cà phê dăm bảy người
lơ đãng, Ngoan bỗng dưng bật nói thật to, như là vừa phát hiện một điều
lý thú, hay phát giác chuyện động trời. Tuy nhiên, giọng của hắn thì
buồn thiu, như đó là điều tệ hại.
Vài người ngó theo ánh
mắt của Ngoan, xem thử có em gái nào vừa đi qua, khiến anh chàng bỗng
nảy sinh liên tưởng không. Nhưng, không có một em gái nào. 8/26/2008 Ngàn lẻ một chuyện về... người Việt xấu xíNhững câu chuyện kể về tính xấu của người Việt mà ta có thể bắt gặp trên.. mọi ngả đường. 1. "Chạy cho kịp giờ" Một lần đèn đỏ, phía bên kia đường vắng không ai qua, mọi người liền vượt đèn, mỗi tôiđứng lại, thế là họ quay lại nhìn tôi như thể nhìn người ngoài hành tinh. Tất nhiên là tôi không thấy xấu hổ, người nên xấu hổ là những người đã vượt đèn đỏ kia - họ vừa bị "mù màu" vừa bị hổng kiến thức nữa. Một đứa bé được ba mẹ
chở, đến đèn đỏ mọi người cùng vượt. Bé hỏi "sao đèn đỏ mọi người lại
chạy, cô giáo dạy đèn xanh mới được đi cơ mà". Ba mẹ trả lời: "chạy cho
kịp giờ ". Với cách nghĩ đó, sau này bé cũng sẽ "vượt đèn cho kịp giờ
". Lại một thế hệ nữa đi theo thói quen xấu. 2. "Xin lỗi, người Việt Nam toàn thế" Ngay trong sáng nay thôi khi tôi dừng xe theo trình tự để đổ xăng, lúc đó cây xăng rất đông và ai cũng nhẫn nại chờ đợi đến lượt mình. Khi một người vừa rời đi thì có một cậu thanh niên vượt lên đổ ngay trước mặt tôi, nhanh chóng yêu cầu người bán hàng đổ trước. Người bán hàng cũng không cần xem xét hành động của anh ta và cứ đổ cho anh ta trước. Tôi nói với người bán hàng mình đã đến trước và đề nghị không đổ cho người loi choi đó, người bán hàng không nói gì, còn cậu thanh niên kia bảo: " Xin lỗi! Người Việt Nam toàn thế" rồi bỏ đi trước sự ngơ ngác của bao người. Vậy đấy, người Việt ta rất xấu và nếu chúng ta mỗi nguời hàng ngày không tự ý thức rèn luyện, e rằng thế hệ sau sẽ ảnh hưởng bởi hiệu ứng lan truyền, thấm lâu và chính chúng ta sẽ chịu hậu quả " gieo gió thì gặt bão". 3. Miễn xin lỗi Chuyện vô ý thức trong
nếp sống hàng ngày tôi thường xuyên gặp. Chẳng nói đâu xa, mỗi buổi
sáng đi tập thể dục tại lớp thể dục thẩm mỹ của trung tâm thể dục thể
thao Quận, tôi vẫn thấy những chị đi làm đẹp cơ thể mình chen ngang một
cách vô lối, họ đến muộn nhưng vô tư đứng trước mặt người khác và lờ đi
như không có ai đứng xung quanh, cho dù khoảng cách giữa mọi người
thường là 1sải tay để tránh va, đá vào người khác và cũng tỏ ra bình
thường khi dang tay vả ngang mặt người khác (không cần xin lỗi). 4. Đám đông Mỗi lần đi ngang qua 1 vụ đụng xe, cả 2 bên cùng chửi nhau ỏm tỏi, rồi mọi người hiếu kỳ đứng lại xem làm kẹt xe. Không biết họ đã để lãng phí mất bao nhiêu thời gian vì chuyện đó. Một lần, cô dạy văn của tôi kể chuyện, ngày xưa thời đánh Mỹ ở Sài Gòn, một trái bom nổ lên, không có thương vong, mọi người hiếu kỳ bu lại xem. Đến trái thứ 2 phát nổ, cả trăm người đó chết hết. Tai hại thật. 5. Chỉ trẻ con mới cần học đạo đức? Một lần tôi leo Fansipan cùng một nhóm bạn trong đó có một anh đi du học Hàn Quốc về. Ngay khi mới bắt đầu vào rừng, khi có người vứt cái vỏ chai nước đã uống hết ra đường, anh nhặt lên và nói là chai nước và các loại túi ni-lon sẽ mất rất nhiều thời gian để phân huỷ, vì vậy không nên vứt chúng bừa bãi mà chờ khi có thùng rác mới cho vào. Tôi nghĩ, mỗi chúng ta cũng nên như anh bạn kia, biết hướng dẫn cho người khác có ý thức hơn không chỉ về việc bảo vệ môi trường, biết xếp hàng, không lãng phí trong bữa tiệc đứng mà còn cả ý thức cư xử văn minh. Tôi cũng mong ngành giáo dục quan tâm hơn về vấn đề này hơn nữa. Khi còn là học sinh cấp 1, tôi có được học môn Đạo đức và đã có nhưng bài học thật bổ ích, nhưng sau đó thì chúng ta không có nhưng môn tương tự cho lứa tuổi lớn hơn. Ngay cả khi học đại học, khi học môn Luật đại cương tôi chỉ được học các điều luật, các chế tài xử phạt, chứ không thấy được học về ý thức chấp hành luật. Phải chăng Bộ giáo dục cho rằng chỉ có trẻ con mới cần học môn đạo đức? 8/25/2008 Báo động trào lưu "uống máu rồng"Chán rắn, ngán thịt rừng và nhất là quan niệm "ăn rồng sẽ khỏe như rồng" nên gần đây, các môn đồ của cơn lốc tráng dương bổ thận đang chĩa tầm ngắm vào một loài bò sát có tên rồng đất. Mốt ăn chơi không chỉ khiến số phận của rồng đất lâm nguy mà còn tiềm tàng những hiểm họa khôn lường với người trong cuộc.
Chào hàng - Hành quyết ngay tại bàn nhậu "Sau nhiều năm dài bị lép vế trước đại ca mãng xà, rồng đất đã có cuộc soán ngôi ngoạn mục khi trở thành món thực đơn chính của nhiều quán nhậu ở Sài Gòn, tụ điểm ăn nhậu của cả nước. Quất máu, mật, tim, thịt… thằng này vô, đảm bảo tối nay về, bà xã chỉ có nước lạy anh em mình đó" (?!). Đấy là tuyên ngôn của một trong 4 quý ông tại quán nhậu H.R trên đường Hai Bà Trưng, quận 1. Dứt lời, ông này sành điệu hất hàm hỏi cô phục vụ đỏm dáng: "Hôm nay có rồng đất không cưng?". "Dạ có!". "Lớn hay nhỏ?". "Đại cồ việt luôn anh!". Dứt lời, cô nàng ngoáy đầu về hướng nhà bếp ra hiệu. Trong tích tắc, một thanh niên tay cầm con rồng đất tiến thẳng ra bàn nhậu. Chứng kiến cảnh gã thanh niên cầm gáy con vật có màu sắc sặc sỡ như con tắc kè hoa bự gấp rưỡi cổ tay người lớn đang phùng mang, giãy giụa trong sự tuyệt vọng đặt trên bàn nhậu cho các ông khách sành điệu xem mập, ốm, nhiều thực khách đang ngồi nhậu đã không rời mắt vì ấn tượng. Sau vài cú sờ nắn ra vẻ, ông khách bệ vệ lúc nãy lại hất hàm: "Cắt tiết hai con, một trộn gỏi lá me, một nướng". Thượng đế vừa dứt lời, anh nọ xăng xái rút trong túi quần con dao kề cổ con vật. Nhát dao lướt qua, dòng máu đỏ từ yết hầu con rồng đất bắn xối xả vào ly rượu trắng. Bằng cú lỉa dao điệu nghệ, trong tích tắc, nguyên bộ lòng của con rồng đất sề ra, trái tim còn đập phập phồng cùng túi mật của con vật được anh nọ tống thẳng vào ly rượu. Sau màn cắt tiết, anh nọ mang hai con rồng đất vào bếp và sau khoảng 15 phút chờ đợi, 4 ông khách sành điệu đã có thể hân hoan nốc rượu pha máu rồng và nhấm nháp gỏi rồng trộn lá me, rồng nướng ngũ vị. Tại các quán nhậu khác thuộc loại tiếng tăm ở thành phố như quán V.C trên đường Hoàng Văn Thụ, quán L.N.N.B trên đường Cách Mạng Tháng Tám, tôi liên tục nghe nhiều thực khách yêu cầu cắt tiết rồng đất. Bất chấp khuyến cáo của ngành Y tế đã có nhiều người phải thân tàn ma dại, thậm chí bỏ mạng vì cái tội ăn tiết canh, uống rượu pha máu vì máu động vật chính là nguồn lây lan các bệnh truyền nhiễm, tại các quán đặc sản chúng tôi đến đều thấy các ông uống máu rồng hà rầm. Lời khẩn cầu tuyệt vọng! Hải, đầu bếp của quán H.R trong quá trình cắt tiết vui vẻ kể chuyện rồng cho mấy ông khách hám của lạ. Theo lời Hải, ngoài việc lạ miệng, ăn rồng để được khỏe như rồng, một trong những nguyên do chính đưa rồng đất lên ngôi "đệ nhứt mồi" là do tính an toàn của thân xác chúng. Hải chép miệng: "Dạo gần đây, báo chí liên tục phản ánh thịt rừng được tẩm hóa chất ướp xác người phọc môn - phọc méc gì đó ăn vào dễ bị ung thư nên các bố ngán. Rồng đất được làm thịt lúc tươi sống, ăn ngon lại an toàn tuyệt đối nên ai cũng kết". Theo Sách đỏ Việt Nam, ngoài các tỉnh thuộc Tây Nguyên, rồng đất còn hiện diện ở các tỉnh như Lào Cai, Yên Bái, Bắc Cạn, Bắc Giang, Kiên Giang…, nói chung, phạm vi phân bố của rồng đất rất rộng nhưng đáng tiếc là số lượng giảm sút nhiều. Đây cũng chính là lý do mà sách này đã xếp rồng đất vào nhóm động vật hoang dã có mức độ đe dọa bậc V, nghĩa là có nguy cấp tuyệt chủng. Nguy cơ này ngày càng cao khi những con cái với bụng mang dạ chửa lặc lè là đối tượng ưu tiên số một của dân lai rai. Nhiều thực khách ra vẻ sành điệu: "Trứng rồng béo, thơm, ngọt, bùi, có vị nhẫn lạ miệng rất tuyệt vời… Trứng đó mà đem xào với hành thì ngay cả vua chúa cũng còn thèm chứ nói chi anh em mình". Con bé chưa kịp lớn đã bị tóm, con cái bụng mang dạ chửa làm nhiệm vụ duy trì giống nòi, người ta cũng chẳng tha, bị truy sát theo kiểu tận diệt như thế hỏi sao rồng đất tránh khỏi thảm cảnh lâm ly phận số. Khang, một lái rồng lúc đang giao hàng cho một quán nhậu đặc sản rừng ở quận 12, cho biết: "Rồng đất mỗi ngày một hiếm nhưng nhu cầu thì cứ liên tục gia tăng. Để có hàng cung cấp cho thị trường, không ít chủ vựa đã chơi bạo ứng tiền trước cho các nhóm thợ săn và thu mua với giá cao nhưng vẫn không gom đủ nguồn hàng cung ứng". Nói đến đây, gã lái rồng bày tỏ sự nuối tiếc: "Bây giờ, chỉ toàn là loại rồng tắc kè dưới 200 gram không hà (ý nói rồng đất nhỏ) nên khách hàng ít chuộng. Bởi vậy nên dù muốn "bơm" giá nhưng tụi tui cũng đành chịu thua… Đã có nhiều thượng đế tuyên bố sẵn sàng chi bạc triệu cho con rồng chúa nào có trọng lượng trên 500 gram nhưng… chịu. Tất nhiên phải là rồng tự nhiên chứ rồng nuôi thì hổng có giá đó". Món khoái khẩu của rồng đất là côn trùng, nhất là các loài gây hại cho nhà nông. Thế nên sự vắng mặt của rồng đất đã vô tình góp phần thổi bùng sự lộng hành của nhiều loài gây hại như rầy nâu, bọ xít, cào cào, châu chấu… Tại nhiều vùng quê, "lũ giặc" này đã làm cho hàng ngàn hộ nông dân điêu đứng vì mùa màng bị thất bát. Điều đáng buồn là thảm trạng đó vẫn không thức tỉnh được đám mày râu lắm tiền khoái của lạ, mê tăng lực “Tắm tiên” trong... bồn nước nóngNgười ta bảo Thuận Mỹ là “cõi tiên”. Điều đó đúng hay sai tùy thuộc vào cách nghĩ của mỗi người. Còn tôi, thực lòng không muốn kể những chuyện ở nơi được cho là “cõi tiên” ấy, bởi thấy chạnh lòng cho những quy chuẩn đạo đức văn hóa ngàn đời được vun đắp ở những con người mộc mạc, chất phác nơi đây đã bị mai một. Người bạn ở Ba Vì biết tôi đang trên đường đi Thuận Mỹ, đã cười khoái trá: “Ông đến Thuận Mỹ là đến với cõi… tiên đó”. Sao lại là cõi tiên ở miền xứ Đoài mây trắng này? Tôi gặng hỏi thì cậu bạn úp mở “thì ông cứ đến đi rồi sẽ biết. Ở đó toàn tiên, mà là tiên bằng da bằng thịt chứ không phải tiên trong truyền thuyết giáng trần đâu. Ông tin hay không thì tùy…”. “Ở đây có… tiên” Lời giới thiệu của người bạn khiến tôi tò mò. Tôi từ thành phố Sơn Tây “phi” một mạch hơn 30km đến Thuận Mỹ sau nhiều lần hỏi thăm đường. Tỉnh lộ 86 rẽ vào xã Thuận Mỹ càng đi càng vắng. Đường nhựa thênh thang, bóng cây rừng rợp mát càng làm cung đường trở nên hư ảo dưới bóng mây chiều sơn cước.
Cây cỏ ở đây như được tiếp thêm sức mạnh của không khí trong lành của núi đồi non Tản, nó càng trở nên thơ mộng và thanh bình. Mặc dù cột số báo Thuận Mỹ 12km nữa nhưng tôi vẫn phải dừng xe hỏi khi phát hiện trước mắt có người đàn bà chít khăn kín mít đang phát cỏ chè bên đường. “Chị cho em hỏi đến Thuận Mỹ?”. “Chú cứ đi thẳng khi nào đến bờ đê nhìn thấy cây đa cổ thụ đầu làng thì đó là Thuận Mỹ”. “Có phải ở đó có…”. “Đúng rồi”. Tôi chưa nói hết câu nhưng người đàn bà có vẻ đã hiểu ý và chỉ đường cho tôi với vẻ gượng gạo khác thường trên ánh mắt chất phác. Vẫn còn đó cái dáng làng cổ kính của miền quê xứ Đoài. Cây đa đầu làng sừng sững tỏa bóng rợp mát cho Thuận Mỹ. Có lẽ đây là nét duy nhất để khắc họa sự mộc mạc cho miền quê này. Người đến Thuận Mỹ lần đầu tiên sẽ tự hỏi, miền quê xa nằm bên bờ dòng sông Đà quanh năm thác đổ ầm ào sao, lại xuất hiện nhiều nhà nghỉ đến thế. Những nhà nghỉ máy lạnh chạy ro ro ngày đêm nằm san sát, lấn cả ruộng ngô, bãi khoai màu mỡ của những người nông dân thuần phác. Trong bản đồ du lịch, Thuận Mỹ, Ba Vì không phải là địa danh du lịch tiếng tăm. Vậy những khối bê tông khang trang trưng biển nhà nghỉ lòe loẹt kia dành cho người làm đồng mệt mỏi nghỉ ngơi sau những giờ lao động vất vả ngày mùa? Xưa kia, khi Thuận Mỹ còn nghèo, xóm làng trọng việc học hành, lễ nghĩa. Cái tiếng giữa làng đối với họ là điều cao cả hơn tiền bạc và những vật chất giá trị khác. Giá trị văn hóa đạo đức ở Thuận Mỹ giờ đây đã bị thương mại hóa. Từ đầu làng đến cuối ngõ ở Thuận Mỹ, từ nhà tranh mái lá lạc hậu đến nhà cao tầng tân tiến đều treo: những tấm biển mời gọi du khách “vào gặp tiên”, “tiên tản non sa”… Những tấm biển như vậy được treo kệch cỡm. Màu biển xanh xanh hồng hồng, với những dòng chữ mời gọi và hình ảnh những “cô tiên tóc nâu môi trầm” lả lơi, đêm cũng như ngày đèn màu nhấp nháy như thị tứ phồn hoa ở xứ nào đó chứ không phải vùng quê dưới Tản non viên nữa. Từ đường làng đến ngõ xóm đâu đâu cũng là biển quảng cáo “Tắm tiên nước nóng… bỏng. Các nàng tiên sẽ đưa “vương gia” vào dòng nước khoáng thiên nhiên 40 độ C”.
Sự đón tiếp chuyên nghiệp khiến tôi không khỏi hoang mang bởi những tiếng cười khúc khích của đám trẻ chăn bò bên triền đê sau lời hỏi thăm của tôi… Chủ nhân của những nhà nghỉ khang trang ấy là những người có lắm tiền của từ thành phố về đây xây dựng. Chính họ là những người mang cái “hồn phố” của nơi phồn hoa về vùng thôn dã này. Tiên sa… bồn nước nóng Từ đầu làng đến cuối làng, qua mỗi ngôi nhà lại có người ngó đầu ra vẫy: “đây cơ mà, đây anh ơi!”. Đang đứng trên triền đê sông Đà, chiêm ngưỡng phía bờ bên kia là địa danh Thanh Thủy, Phú Thọ, thì một người đàn ông chạy đến vồn vã: “Này chú, vào tôi đi, nhà tôi nước nóng hơn bên Thanh Thủy nhiều, đảm bảo cho chú sảng khoái, nếu không đồng ý chú cứ thay đổi khi nào vừa lòng thì thôi, “tiên” nhà tôi tha hồ… chọn. Đi, nào đã về đến đây rồi, ở nơi khác làm gì có như ở đây. Chú cần sẽ có 3, 4 “tiên” tắm cho chú một lúc luôn”. Trong căn nhà mái ngói khang trang, cả hai vợ chồng trông rất thuần phác giới thiệu về “tiên nữ” hiện đang có trong nhà mình. Bên dãy phòng kế bên cửa đóng then cài, tiếng nước xối xả hòa lẫn tiếng cười khúc khích bên trong. 6 phòng bồn đều đóng kín cửa. Chị vợ đon đả ra đầu nhà bẻ chùm nhãn mang vào mời khách: “Chú uống nước đi rồi ăn hoa quả, cây nhà lá vườn nom thế mà ngọt lịm”. Một lúc sau, cánh cửa phòng mở tung, mấy cô “tiên” từ bồn nước tắm bước ra, quay đầu rũ nước trên mái tóc. Mấy người đàn ông bước theo sau, đầu tóc ai nấy nhỏ từng giọt nước xuống vai áo khô. Ngoài sân, một cụ già vẫn đang băm rau lợn từ khi tôi vào đến giờ. “Em vào tắm đi, tiên nữ sẽ tắm cho em, em sẽ hết mệt”. “Nước nhà anh không nóng thì phải”. “Có. Em không pha nước mát có khi bỏng không chịu được ấy chứ”, “Lan, Thủy, Hạnh… đâu vào đây em”. Cả ba cái tên vừa được chủ hô liền vào bên bàn tôi đang ngồi. “Đấy! Em thích “tiên” nào thì vào, hay cả 3 đi để các cô ấy tắm cho sạch”. “Các em cứ ngồi uống nước đi, tôi đi đường xa giữa trời nắng hơi mệt, sợ cảm lắm, để tôi nghỉ ngơi đã”. Thật ra, những cái tên mỹ miều ngồi cạnh tôi bây giờ thì chỉ để gọi thôi, chứ chắc chắn chả phải tên cha mẹ đặt cho. Tôi nhìn một cô gái khuôn mặt hiền lành có tên Thủy: “Em ngồi xuống đây đi”. Thủy nhẹ nhàng rót nước mời tôi. Đôi tay của Thủy khiến tôi giật mình. Nó không còn là đôi tay của người con gái tuổi đôi mươi nữa, mà nhăn nheo như đôi tay của bà cụ già vừa rút lên từ ruộng cấy mùa đông giá. Tôi hỏi cô từ vùng nào tới, Thủy không nói nhưng chất giọng còn lơ lớ cũng khẳng định được em đến từ vùng quê nào rồi. “Tôi đi đường xa, không dám tắm, sợ bị cảm. Tôi ở xuôi lên làm dự án, và sẽ còn làm ở đây nhiều ngày, em cho tôi xin số điện thoại, nếu tối rảnh tôi có thể mời em ra uống nước mía dưới gốc đa đầu làng”.
Cách đây ít hôm, tôi trở lại Thuận Mỹ đã gọi cho Thủy và cô đã nhận lời ra quán nước mía. “Anh lạ nhỉ, sao anh có vẻ quan tâm đến người như bọn em. ở đây người ta đến rồi về nhưng chẳng ai hỏi han kỹ như anh cả” - Thủy thắc mắc. Rồi cô gái kể: “Em đã có chồng con, quê em nghèo nên em bỏ con cho bà nói dối chồng đi làm ở ngoài Hà Nội. Làm cái này cũng khổ lắm, nhưng vẫn phải chấp nhận vì em chẳng biết làm gì hơn để có tiền nuôi chồng con. Mỗi ngày tắm cho khách cũng được vài trăm ngàn đồng. Đấy là em khỏe, chứ ai mà yếu chỉ tắm được cho 3, 4 người một ngày thôi. Ngâm nước suốt ngày, người bã như vắt giẻ, nước làm rụng tóc, da tay chân như người chết nước. Con gái bọn em ngâm nước như thế, bệnh phụ nữ khó lòng chữa trị được, có khi lở loét hết”. Thủy cho biết: “Cách đây vài tuần có một chị đến đây làm đã phải mang theo cả đứa con nhỏ 6 tháng tuổi gửi chủ nhà. Vừa làm, vừa nuôi con được chưa đầy một tháng đã bị ốm, về quê rồi”. Phận làm kiếp mua vui cho người là vậy. Lạc vào cõi làm “tiên” này có phải ai cũng làm người tội lỗi? Đến Thuận Mỹ nếu có nhu cầu có thể ới một tiếng lập tức 10 “tiên nữ” kỳ cọ cho từng kẽ chân… lông, vui đùa thỏa thích trong bồn tắm nước nóng được khơi hút từ lòng đất sâu tới cả nghìn mét. 5 năm trở lại đây, khi Thuận Mỹ du nhập thú “tắm cho khách mời” thì miền quê này không còn bình lặng nữa. Tệ nạn đã đẩy làng quê thôn dã vào chốn ăn chơi. Đi từ đầu làng đến cuối làng, người ta khó bắt gặp hình ảnh thôn nữ gánh nông sản ngày mùa, nhưng dễ dàng thấy các “tiên nữ” lượn qua, lượn lại, đứng gọi khách. Nhà nhà có “tiên nữ, người người đón khách cho tiên nữ tắm”. Cái gọi là nghề mà không phải nghề ấy nó được người thành phố mang về đây đã đánh bật được cả nghề làm nông nghiệp cố hữu. Tất cả những quy chuẩn của đạo đức, của văn hóa mà ngàn đời nay vun đắp hình như không còn ý nghĩa ở miền quê Thuận Mỹ này nữa. Luồng gió đen được du nhập từ chính người thành thị đã làm xói mòn hồn quê nơi đây. 8/23/2008 Giáo Trình Cấu Trúc Dữ Liệu 18/22/2008 Lý Thuyết - Bài Tập Photoshop Nâng Cao10 bài lý thuyết - thực hành photoshop nâng cao Giáo trình được viết bằng file Acrobat Reader (PDF File) Click Here To Download 8/15/2008 Giáo Trình Photoshop Căn Bản8/13/2008 Món quà sinh nhật - Vạn Kim BôiTốt nghiệp đại học Ngoại ngữ, tôi được phân về dạy ở một trường dành cho người khiếm thị. Thú thật ban đầu tôi không lấy gì làm thích thú và tha thiết với công việc này. Nhìn lũ bạn cùng lớp đại học, đứa thì làm cho công ty liên doanh nước ngoài, đứa thì được giữ lại trường làm giảng viên, tôi lại cảm thấy xấu hổ với công việc mình đang làm vì quá thua kém bạn bè về cả địa vị và thu nhập. Chính vì lẽ đó, tôi thờ ơ với tất cả mọi thứ trừ công việc chuyên môn của mình. Đến giờ thì lên lớp, hết giờ thì về nhà. Tôi không chú ý đến đám học sinh trong cái lớp học đặc biệt ấy. Tôi biết rằng, nhiều đứa đặt cho tôi biệt danh là “mặt sắt” nhưng tôi cũng chẳng thèm để tâm. Tôi luôn tìm cơ hội để chuyển sang công việc khác. Hôm ấy là sinh nhật tôi. Trời mưa tầm tã. Gần hết giờ dạy mà mưa vẫn chưa ngớt. Trong lúc đám học sinh đang cặm cụi làm bài tập, tôi tranh thủ nhắn tin cho bạn trai tới đón. Khi tiếng chuông tan tầm vừa dứt, tôi nhét vội cuốn sách vào túi và ra khỏi lớp học. Phía bên kia đường, bạn trai tôi đang đợi ở quán nước. Tôi rảo bước về phía anh mong sớm được về nhà. Vừa chuẩn bị lên xe, tôi nghe phía cổng trường có tiếng gọi với theo: Cô ơi…! Tôi nghĩ bụng: “Chắc mình bỏ quên cái gì đấy. Thôi để mai lấy, trời đang mưa thế này…”. Tôi ái ngại và giục anh nổ máy. Chợt tôi nghe có tiếng động cơ xe máy rú ga vọt qua và tiếng kêu thất thanh. Đứa học trò nằm sóng xoài trên mặt đường. Mưa vẫn rơi tầm tã. Tôi lao xuống. Khi nhìn thấy vết máu loang theo dòng nước trên mặt đường, người tôi mềm nhũn ra. Nước mắt tôi nhòa trong làn mưa. Đứa học trò nằm bất động bên cạnh là hộp quà bị chiếc xe vô tình cán bẹp dí. Do quá hoảng loạn và bị cảm lạnh do ngấm nước mưa nên mấy ngày sau đó tôi phải nằm viện. Đám tang của đứa học trò xấu số tôi không thể tham dự. Tôi đã khóc thật nhiều và tự dằn vặt bản thân mình thật nhiều. Sự kiện đau buồn đó trở thành nỗi ám ảnh đối với tôi. Sau lần ấy, tôi đã gần gũi và hiểu thêm nhiều về đám học trò kém may mắn của mình. Bây giờ tôi đã chuyển sang một chỗ làm khác và cũng không còn dạy học nữa. Thế nhưng, chiếc vòng đá - món quà sinh nhật bị cán vỡ đôi và cảm giác ân hận, hối lỗi sẽ còn đeo đẳng tôi đến hết cuộc đời. Nó luôn nhắc tôi hết lòng với những công việc mà mình đang làm. Tôi viết những dòng này mong em tha thứ cho tôi. Cầu cho linh hồn em yên ngủ nơi chín suối. |
|
|