Bùi Tiến's profileTruongbtPhotosBlogListsMore Tools Help

Blog


    2/27/2008

    Chuyện Thiền - donTRUONGBT

    Con Đường Bùn Lầy
    Một hôm Tanzan và Ekido cùng đi trên một con đường lầy lội. Cơn mưa nặng hạt vẫn còn rơi. Qua một khúc quanh, họ gặp một người thiếu nữ xinh đẹp trong bộ kimono với đai lưng bằng lụa, ngập ngừng không băng qua đường được.
    "Này cô bé," vừa nói xong, tức thì Tanzan bế cô gái sang bên kia đường.
    Ekido không trò chuyện nữa cho mãi đến đêm khi hai người đến trú ở một ngôi chùa. Không còn chịu được nữa Ekido phàn nàn với Tanzan: "Chúng ta là tăng sĩ, không được đến gần phụ nữ, nhất là con gái trẻ đẹp. Nguy hiểm lắm. Tại sao sư huynh lại phạm giới?"
    "Ủa, tôi đã để cô gái ở đấy rồi mà," Tanzan nói. "Sư huynh còn mang cô ấy theo ư?"

    Câu truyện Về Nàng Shunkai
    Shunkai còn có tên khác là Suzu, một giai nhân sắc nước hương trời. Lúc còn trẻ nàng đã bị ép hôn; không bao lâu sau cuộc hôn nhân đổ vở, nàng theo học triết ở một trường đại học.
    Ai nhìn thấy Shunkai cũng đều thầm yêu trộm nhớ. Đã thế, nàng đến đâu cũng gây được cảm tình. Khi không hài lòng với triết học, nàng đến một thiền viện để học thiền, và rồi các thiền sinh lại mê nàng như điếu đổ. Số của Shunkai thật là đào hoa.
    Sau rốt nàng thực sự trở thành một thiền sinh ở Kyoto. Các sư huynh ở thiền viện Kennin đều ca tụng lòng thành của nàng, và một vị trong số đó kết thân và giúp nàng thấu triệt được thiền.
    Viện trưởng của thiền viện là Mokurai, Tịnh Sấm, rất là khắc khe. Ngài tự giử giới rất nghiêm và đòi hỏi mọi thiền sinh cũng phải như thế. Nhưng than ôi, trong nước Nhật hiện đại, tăng sinh lại lấy vợ. Mokurai thường phải dùng chổi để xua đuổi phụ nữ ra khỏi các thiền viện của ngài, khi thấy có bóng hồng thấp thoáng.
    Nhưng khổ thay, đuổi ra bao nhiêu lại vào càng nhiều hơn. Bà vợ của ông trưởng tràng lại bắt đầu ghen tương với Shunkai. Bà càng điên tiết hơn khi nghe các thiền sinh ca ngợi sự liu ngộ thiền của nàng. Sau rốt bà đi phao tin về sự liên hệ giửa Shunkai và người bạn thiền huynh; vì vậy mà hai người bị đuổi ra khỏi thiền viện.
    "Ta có thể chịu một phần lỗi," Shunkai thầm nghĩ, "nhưng bà vợ của ông trưởng tràng cũng không thể ở lại thiền viện khi bạn của ta bị đối xử bất công như vậy."
    Đêm ấy Shunkai phóng hỏa đốt rụi thiền viện có từ 500 năm. Hôm sau nàng bị nhà chức trách bắt giử.
    Một luật sư trẻ chú ý đến nàng và muốn giúp làm cho bản án nhẹ hơn. "Ông không nên giúp tôi," nàng nói. "Bởi vì tôi sẽ gây nên tội khác để lại bị cầm tù."
    Sau bảy năm bị giam giử, và ngay cả ông cai ngục 60 tuổi cũng mê mệt vì nàng, cuối cùng Shunkai được thả.
    Nhưng từ đó, chẳng ai muốn gần gủi giúp đở nàng. Ngay cả các thiền sinh, những kẽ vốn tin vào giác ngộ giải thoát trong đời này với thân xác này, cũng xa lánh nàng.
    Shunkai khám phá ra rằng Thiền là một việc mà kẽ theo thiền lại là một việc khác hẳn. Nàng mắc bệnh và kiệt lực.
    Nàng gặp một tăng sĩ phái Shinsu, và được dạy niệm danh hiệu Đức Quán Thế- Âm. Nhờ vậy tâm hồn Shunkai được an ủi. Nàng chết khi còn tuyệt đẹp ở tuổi vừa ba mươi.
    Khi còn đói rách, nàng đã viết lại câu chuyện về đời nàng để kiếm sống. Câu chuyện được lan truyền ở Nhật; rồi những kẻ đã từng xa lánh nàng, đã từng ganh ghét và thóa mạ nàng nay lại đọc chuyện đời nàng trong nước mắt ràng rụa vì hối hận.

    Đi Đêm
    Nhiều đệ tử theo học thiền với Thiền sư Sengai. Một người trong đám hay thức dậy nữa đêm, trèo tường trốn khỏi thiền viện để xuống phố du hí.
    Một đêm kia Sengai đi kiểm soát khu tăng thất, thấy vắng mặt thiền sinh nọ và khám phá ra cái ghế cao mà y hay dùng để trèo tường. Sengai lấy cái ghế đi và đứng thay vào chỗ ấy.Khi kẽ ngao du quay về, chẳng biết đến sự việc, đặt chân lên đầu thầy và nhảy xuống.
    Khi khám phá ra mọi chuyện, y sững sốt.
    Sengai bảo: "Khi gần sáng trời thường lạnh lắm. Đừng dể bị cảm."
    Người đệ tử không bao giờ ra ngoài vào ban đêm nữa.

    Đường Hầm
    Zenkai, con của một hiệp sĩ đạo, du hành đến Edo và được nhận làm hầu cận của một quan chức lớn. Y tư tình với bà vợ viên quan và chuyện bị vở lở. Vì tự vệ, y hạ sát viên quan rồi tẩu thoát với nhân tình.

    Cả hai về sau trở thành đạo chích. Nhưng người đàn bà tham lam quá độ làm cho Zenkai ghê tởm. Cuối cùng, y đành phải bõ rơi bà ta và trôi nỗi đến một tỉnh xa Buzen, trở nên một tên hành khất lang thang.
    Để chuộc tội trong quá khứ, Zenkai nguyện làm vài điều thiện trong đời. Biết có một con đường đi qua vực núi rất nguy hiểm đã làm nhiều người chết và bị thương, y quyết tâm đục một đường hầm qua núi. Khất thực ban ngày. Zenkai đào hầm vào ban đêm. Sau ba mươi năm, đường hầm đã được đào dài 2,280 bộ, cao 20 bộ, và rộng 30 bộ.
    Hai năm trước khi công việc hoàn tất, người con của viên quan bị y giết, nay là tay kiếm cao thủ, tìm ra tông tích Zenkai và tìm đến giết y để trả thù.
    "Ta sẽ nộp mạng cho ngươi," Zenkai bảo. "Hãy để ta hoàn thành công việc này. Đến ngày đó ngươi có thể giết ta."
    Người con chờ đợi ngày đó. Vài tháng trôi qua và Zenkai tiếp tục đào. Người con chán ngồi không và góp tay đào giúp. Sau hơn một năm giúp đào, người con thán phục tư cách và ý chí của Zenkai.
    Cuối cùng, đường hầm đào xong và mọi người qua lại an toàn.
    "Hãy lấy đầu ta," Zenkai nói. "Việc đã hoàn tất."
    "Sao con lại có thể cắt đầu của thầy được?" người thanh niên hỏi mà nước mắt đầm đìa.

    Hãy Tự Mở Kho Báu Của Mình
    Daiju tìm đến Thiền sư Baso ở Trung quốc để học đạo. Baso hỏi: "Ông tìm kiếm cái gì?"

    "Đạo giác ngộ," Daiju trả lời.
    "Ông đã có sẵn kho báu, tại sao còn phải tìm kiếm bên ngoài?" Baso hỏi.
    Daiju thắc mắc: "Kho báu của tôi ở đâu?"
    Baso trả lời: "Cái mà ông vừa hỏi là kho báu của ông đấy."
    Daiju hốt nhiên thoắt ngộ! Từ đấy về sau ngài thường khuyên bạn bè: "Hãy mở kho báu của mình ra mà dùng."

    Tìm Thấy Viên Ngọc Trên Đường Bùn
    Gudo tuy là quốc sư, nhưng ngài vẫn hay du hành như một kẻ khất sĩ lang thang. Một hôm trên đường đi Edo, một trung tâm văn hóa và chính trị quan trọng, ngài đến gần một ngôi làng có tên là Takenaka. Trời đã tối và mưa tầm tả, Gudo ướt mẹp và đôi dép rơm đã tơi tả. 
    Một căn nhà tranh gần làng, ngài thấy có khoảng bốn hay năm đôi dép bày ở cửa sồ và muốn vào hỏi mua một đôi. Người đàn bà thấy ngài ướt lạnh, thương tình mời ngài trú qua đêm. Gudo nhận lời và cám tạ bà ta. Ngài đến trước bàn thờ giữa nhà tụng một thời kinh. Sau đó bà mẹ của bà chủ và bầy con ra chào. Nhìn thấy cả nhà buồn bả, ngài hỏi cớ sự. "Chồng con là kẻ cờ bạc say sưa", người đàn bà kể lể. "Khi ổng ăn bạc thì uống rượu say mèm rồi về nhà đánh đập vợ con. Nếu ổng thua thì đi vay mượn khắp nơi. Lắm khi say quá lại không về nhà. Con phải làm sao?"

    "Để bần tăng giúp cho," Gudo nói. "Đây có ít tiền, hãy đi mua một chung rượu ngon và ít đồ nhấm. Rồi bà đi nghỉ đi. Bần tăng sẽ tọa thiền trước bàn thờ." Nữa đêm, ông chồng say khướt trở về, la lối om xòm. "Con mẹ nó đâu, tao về nhà đây này. Có cái gì ăn không?"
    "Có" Gudo nói, "Bần tăng bị mắc mưa và được bà nhà thương tâm cho tạm trú qua đêm. Để đền đáp bần tăng có mua một ít rượu và đồ nhấm dành cho ông dùng."
    Gã đàn ông hài lòng, uống sạch chung rượu rồi ngã lăn trên sàn mà ngủ. Gudo tọa thiền cạnh bên. Sáng sớm hôm sau, gã đàn ông tỉnh dậy quên hẳn mọi chuyện đêm qua.
    "Ông là ai? - đâu đến đây?" gã hỏi Gudo khi ngài vẫn còn trầm tư mặc tưởng. "Bần tăng là Gudo từ Đông Kinh đến, trên đường đi Edo," Thiền sư trả lời.
    Gã đàn ông xấu hổ quá, liền miệng xin lỗi quốc sư. Gudo mĩm cười.
    "Mọi sự, mọi vật trên đời đều vô thường," ngài giảng giải. "Cuộc đời rất ngắn ngủi. Nếu ông cứ tiếp tục cờ bạc và rượu chè thì ông chẳng làm được việc gì hữu sự, lại còn làm khổ vợ con."
    Gã đàn ông chợt ngộ, như ra khỏi cơn mê.
    "Đại sư nói đúng," anh ta dõng dạc. "Làm sao con có thể đền bù cho ngài về lời dạy này! Hay là để con mang hành lý hộ ngài và tin ngài một đoạn đường.ẽ
    "Nếu ông muốn," Gudo tán đồng.
    Hai người lên đường. Sau khoảng ba dặm, Gudo bảo y quay về.
    "Xin được thêm năm dặm nữa," gã nài nỉ. Họ tiếp tục đi.
    "Giờ ông nên quay về," Gudo khuyên.
    "Hẳn thêm mười dặm nữa," gã đàn ông xin.
    "Hãy về ngay," Gudo bảo sau khi đã đi hết mười dặm.
    "Xin cho con theo Đại sư suốt đời," gã tuyên bố.
    Những thiền sư hiện đại của Nhật đều là môn đệ của người kế thừa Gudo. Tên của ngài là Mu-nan, người đàn ông đã không bao giờ quay trở lại.

    Shoun Và Mẹ
    Shoun đã trở thành một thiền sư của phái Soto. Cha ngài qua đời khi ngài còn là một thiền sinh, để lại một mẹ già ngài phải chăm nom. Mỗi khi đến thiền đường ngài đều đưa mẹ theo. Vì mẹ ngài luôn ở bên cạnh, cho nên khi viếng các tự viện, ngài không thể ngụ cùng chư tăng. Ngài xây một thảo am kế cận để được săn sóc cho mẹ. Ngài thường chép kinh kệ để sinh sống. Khi Shoun mua cá cho mẹ, cả chợ đều mĩa mai, bởi nghĩ rằng ngài phạm giới, nhưng ngài bõ ngoài tai. Tuy vậy, mẹ ngài lại đau lòng khi thấy mọi người đàm tiếu con mình. Sau rốt bà bảo Shoun: "Mẹ nghĩ mẹ có thể trở thành ni cô và ăn chay được." Bà liền thực hành và tu học.

    Shoun rất thích nhạc và đã từng là bậc thầy về đàn tranh. Mẹ ngài cũng biết chơi đàn tranh. Có nhiều đêm trăng tròn, hai mẹ con thường hòa đàn với nhau.
    Một đêm có người con gái đi ngang nhà và nghe được tiếng đàn, liền mời ngài đến nhà nàng đánh đàn vào đêm sau. Ngài nhận lời. Vài ngày sau, ngài gặp cô gái ngoài phố và cảm ơn nàng về lòng hiếu khách. Mọi người đều cười chế nhạo vì người thiếu nữ đó là gái giang hồ.
    Một ngày kia Shoun phải đến thuyết pháp ở một ngôi chùa xa. Vài tháng sau, ngài trở về và được tin mẹ vừa mất. Người quen không biết ngài ở đâu để báo tin, nên tiến hành tang lễ.
    Shoun bước đến, dùng gậy gõ lên quan tài. "Mẹ ơi, con đã về đây," ngài nói.
    "Con ạ, mẹ vui lắm khi thấy con trở về," ngài tự trả lời.
    "Vâng, con cũng vui lắm," Shoun trả lời. Rồi ngài tuyên bố cùng mọi người: "Tang lễ đã xong. Xin chôn cất tử tế."
    Khi Shoun về già, ngài biết không còn sống được bao lâu, liền gọi môn đồ đến vào một buổi sáng rồi bảo rằng ngài sẽ viên tịch vào buổi trưa. Đốt hương trước di ảnh của mẹ và sư phụ, ngài viết một bài kệ:
    Ta đã cố sống cho trọn vẹn trong năm mươi sáu năm,
    Rong ruỗi trên đời.
    Bây giờ mưa đã tạnh và mây đang tan,
    Có gương trăng tròn trong bầu trời xanh.
    Môn đệ của ngài vây quanh tụng kinh, và Shoun ra đi trong tiếng kinh cầu.

    Tranh Biện Để Được Tạm Trú
    Các vị tăng khi đi hoằng pháp đó đây, nếu khởi biện và thắng được một cuộc tranh luận về Phật pháp với các vị đang trụ trì? ở một tự viện thì được lưu trú, nhưng nếu thua thì lại xách gói ra đi.

    Trong một ngôi chùa ở phía bắc nước Nhật, có hai vị tăng sĩ huynh đệ kia cùng tu. Vị sư huynh thì uyên bác, nhưng sư đệ thì dốt nát mà lại chột mắt. Có một vị tăng du hành đến xin tạm trú, đã nhã nhặn thách thức một cuộc tranh luận về giáo pháp thâm diệu. Vị sư huynh hôm ấy đã mỏi mệt vì nghiên cứu kinh sách nên bảo sư đệ thay thế. "Hãy ra tiếp và hãy đối thoại trong tĩnh lặng" Sư huynh căn dặn.
    Rồi vị sư đệ và người lữ khách cùng đến trước điện Phật và ngồi xuống.
    Một lát sau, người lữ khách đứng dậy vội vả đến thưa cùng vị sư huynh: "Sư đệ của ngài quả là tuyệt. Ông ấy hạ bần tăng rồi."
    "Hãy nói lại cho ta nghe chuyện đối thoại," vị sư huynh nói.
    "À thế này!" người lữ khách kể, "trước tiên bần tăng giơ lên một ngón tay tượng trưng cho Đức Phật, Đấng Giác ngộ. Sư đệ liền giơ lên hai ngón, ám chỉ Đức Phật và giáo pháp của Ngài. Bần tăng giơ lên ba ngón tượng trưng Phật, Pháp và Tăng. Sư đệ liền giơ nắm đấm trước mặt bần tăng, ám chỉ rằng cả ba đều khởi từ nhất thể. Như thế là sư đệ đã thắng và bần tăng không có lý do gì lưu lại đây cả." Nói xong, lữ khách ra đi.
    "Lão quái tăng ấy đâu rồi?" vị sư đệ chạy vào phòng sư huynh hỏi.
    "Ta biết rằng đệ đã thắng cuộc tranh luận."
    "Thắng con khỉ họ. Tôi định nện cho lão ta một trận."
    "Kể cho ta nghe chuyện gì đã xảy ra nào," sư huynh bảo.
    "Thế nào ư! vừa gặp tôi là lão giơ một ngón tay lên, ý muốn sĩ nhục tôi bằng cách ám chỉ tôi chột mắt. Nễ lão là khách nên tôi ráng lịch sự, rồi thì lảo giơ lên hai ngón, ý mừng rằng lão có hai con mắt. Kế đến tên mắc dịch đó lại giơ lên ba ngón, muốn nói rằng giữa hai người chỉ có ba con mắt. Tôi cáu quá định đấm cho lảo một quả nhưng lảo lại chạy mất và chuyện chỉ có vậy!"

    Sứ Quân Ngu Đần
    Hai vị thiền sư tên là Daigu và Gudo được một sứ quân cho mời đến. Vừa gặp, Gudo bảo với sứ quân: "Ngài có bản chất thông minh và một khả năng bẩm sinh học được Thiền."

    "Nói nhảm," Daigu nói. "Tại sao ngài lại tâng bốc kẻ ngu đần này? Y có thể là một sứ quân, nhưng lại không hiểu tí gì về Thiền."
    Sau đó thay vì xây một ngôi chùa cho Gudo, vị sứ quân lại xây cho Daigu và theo học thiền với ngài.

    Trà Sư Và Kẻ Thích Khách
    Taiko, một tướng quân sống ở Nhật trước thời Tokugawa, học môn Cha-no-yu, trà đạo, với Sen no Rikyu, một vị thầy về biểu hiện vẽ đẹp của tĩnh lặng và tự tại.

    Viên phó tướng của Taiko tên là Kato lại cho rằng sự đam mê về trà đạo của cấp trên làm sao lãng việc nước, nên y quyết đi giết Sen no Rikyu. Y dàn xếp như là một cuộc thăm viếng xã giao và được mời đến dùng trà.
    Trà sư, rất tinh ý cho nên mới nhìn qua đã biết được ý định của viên võ tướng. Ngài yêu cầu Kato gởi kiếm ở bên ngoài trước khi vào phòng lễ, giải thích rằng Cha-no-yu là biểu tượng cho an lạc.
    Kato chẳng nghe lời. "Ta là võ tướng," y bảo. "Gươm luôn luôn ở cạnh ta. Cha-no-yu hay không Cha-no-yu, ta vẫn phải mang gươm."
    "Vậy thì, hãy cứ mang gươm của ngài vào dùng trà," Sen no Rikyu thỏa thuận.
    Ấm đang sôi trên lò than. Chợt Sen no Rikyu làm nó ngả. Hơi nóng réo lên cùng với khói và tro bao trùm khắp phòng. Viên võ tướng giật mình chạy ra ngòai. Trà sư xin lỗi. "Do tôi vụng về. Xin trở vào dùng trà. Gươm của ngài lỡ bị tro phủ và tôi sẽ cho lau chùi sạch sẽ trước khi giao lại cho ngài."
    Trong tình huống như vậy viên võ tướng hiểu rằng y không thể giết được trà sư, nên bỏ hẳn ý định.

    Vật Quý Nhất Trên Đời
    Một đệ tử đã hỏi Sozan, một thiền sư Trung quốc: "Vật gì quý nhất trên đời?"

    Thiền sư trả lời: "Cái đầu của con mèo chết."
    "Tại sao cái đầu của con mèo chết lại là vật quý nhất trên đời?", thiền sinh thắc mắc.
    Sozan trả lời: "Bởi vì không ai có thể trả giá được.

    Thư Cho Người Sắp Chết
    Bassui viết bức thư sau cho một trong những đệ tử của ngài sắp viên tịch:

    "Chân tâm của con không hề được sinh, nên nó không bao giờ diệt.
    Nó không phải là một hiện thực, dễ bị hũy hoại. Nó không hẳn là hư không, như một khoảng trống. Nó không sắc không tướng. Nó không thọ vui hay cam khổ.
    Ta biết rằng con đang bị bệnh nặng. Như một thiền sinh giỏi, con hãy quán chiếu đến chứng bệnh đó. Con có thể không hiểu ai đang đau khổ, mà tự hỏi mình: Cái gì là chân tâm? Chỉ quán tưởng đến điều này. Con chẳng cần gì khác. Chẳng ham muốn điều chi. Phút cuối của con xem như vô hạn chỉ giống như một mảnh tuyết tan trong tịnh độ.

    Học Im Lặng
    Đệ tử phái Tendai thường tập quán tưởng trước khi Thiền được du nhập vào Nhật. Có bốn tăng sinh kết bạn và quyết giữ thanh tịnh trong bảy ngày.

    Ngày đầu cả bốn đều im lặng. Việc trầm tư mặc tưởng của họ khởi đầu tốt đẹp, nhưng khi đêm xuống và ngọn đèn dầu tàn dần thì một vị buộc miệng gọi kẻ hầu: "Rót thêm dầu."
    Tăng sinh thứ nhì ngạc nhiên khi nghe người thứ nhất lên tiếng. "Chúng ta không nên nói lời nào mới phải," ông phê bình.
    "Cả hai vị ngu quá. Tại sao lại nói chuyện?" người thứ ba hỏi.
    "Chỉ có tôi là không nói tiếng nào," tăng sinh thứ tư kết luận.





    2/22/2008

    Chuyện Thiền - Phong Kiến Đại Sư (Truongbt)

    Ba Hạng Đệ Tử
    Thiền sư Gettan, sống vào cuối triều đại Tokugawa. Ngài thường bảo: "Có ba hạng đệ tử : Một hạng hoằng hóa giáo lý, một hạng tu tập  chùa, và một hạng giá áo túi cơm.
    Gasan cũng nói như thế. Khi ngài còn tu học với vị thầy rất khắc khe là Tekisui; đôi khi còn bị thầy nện cho mấy gậy. Nhiều thiền sinh khác không chịu nỗi đã phải bỏ đi. Gasan ở lại, nói: "Một đệ tử xoàng thì dựa oai thầy. Một đệ tử khá thì ngưỡng mộ từ tâm của thầy. Môt đệ tử giỏi thì trở nên vững chải hơn dưới kỷ luật của thầy."

    Ba Ngày Nữa
    Suiwo, đệ tử của Hakuin, là một thiền sư giỏi. Trong thời an cư kiết hạ, một đệ tử từ một đảo phương nam nước Nhật đến gặp thầy. Suiwo trao cho một công án: "Nghe tiếng vỗ của một bàn tay."

    Người đệ tử đã trải qua ba năm mà vẫn chưa ngộ được. Một đêm nọ, ông ta đến gặp Suiwo nước mắt đầm đìa. "Con đành chịu xấu hổ trở về quê thôi," ông ta bảo, "vì con chẳng giải được vấn nạn."
    "Hãy đợi thêm một tuần nữa đi và ráng chú tâm thiền định." Suiwo khuyên. Người thiền sinh vẫn chẳng liu ngộ được. "Ráng thêm một tuần nữa," Suiwo bảo. Người đệ tử vâng lời nhưng vẫn vô ích.
    "Thêm một tuần nữa." Lại vô hiệu. Chán nãn quá, người thiền sinh xin được về quê, nhưng Suiwo yêu cầu thiền quán thêm năm ngày nữa. Chẳng đi đến đâu. Rồi ngài phán: "Thiền thêm ba ngày nữa, nếu ngươi không ngộ được thì hãy tự tử đi."
    Đến ngày thứ hai, vị thiền sinh hốt nhiên thoắt ngộ.

    Bạn Thật Sự
    Thuở xưa ở Trung Hoa có hai người bạn, một người đàn rất tuyệt và một người nghe rất tinh.
    Khi người đàn về cao sơn thì người nghe bảo: "Tôi có thể nhìn thấy núi thẳm ở trước mặt."
    Khi người đàn về lưu thủy, người nghe reo: "Đây là giòng nước chảy!"
    Nhưng rồi người nghe mắc bệnh lìa trần. Người bạn kia cắt đứt dây đàn và không bao giờ đàn nữa. Từ bấy giờ, việc cắt đứt dây đàn ý tõ tình bạn thắm thiết.

    Bắt Giam Tượng Phật
    Một anh lái buôn vác trên vai năm mươi cuộn bông dừng nghỉ trong một trạm dưới chân một tượng Phật bằng đá để tránh hơi nóng. Y buồn ngủ và chợp mắt, khi thức dậy thì hàng hóa biến mất. Y liền đi trình báo với nhà cầm quyền.
    Vị quan tòa tên là O- Oka mở cuộc điều tra. "TượngPhật đó chắc đã đánh căp món hàng," quan tòa kết luận. "Lẽ ra ông ta phải chăm sóc cho sự an lành của dân lại không làm tròn phận sự cao cả. Bắt giam tượng ngaỵ"
    Quan chức liền bắt giam tượng Phật và khiêng vào giửa tòa án. Một đám đông ồn ào kéo theo sau tượng Phật, tò mò muốn biết quan tòa xử hình phạt gì đây.
    Khi O- Oka đăng đường, ông liền trách mắng đám đông. "Các vị dám cả gan đến tòa cười cợt chế riu? Các vị mang tội khinh mạng tòa án nên phải bị phạt tiền và tù."
    Đám đông vội vả xin lỗi. "Ta sẽ giử nguyên phạt vạ," quan tòa phán, "nhưng ta sẽ khoan hồng nếu mỗi người mang đến tòa một cuộn bông trong kỳ hạn ba ngày. Ai không y lệnh sẽ bị bõ tù."
    Một trong những cuộn bông mang đến liền được anh lái buôn nhận ra là của mình, do đó tên trộm bị lộ diện. Anh lái buôn thu hồi số hàng bị mất và mọi cuộn bông được trả lại cho dân.

    Câu Trả Lời Của Người Chết
    Khi Mamiya, về sau trở thành một giảng sư đại tài, đến một thiền sư để được chỉ giáo, liền được cho một công án về tiếng vỗ của một bàn tay.
    Mamiya chú tâm quán chíếu đến đề thọai đầu này. "Ngươi vẫn chưa cố gắng lắm," vị thiền sư bảo với ngài. "Ngươi vẫn còn quá vướùng mắc đến thức ăn, tài, vật và cái tiếng động đó. Tốt hơn nếu ngươi chết đi thì mới giải quyết được vấn nạn."
    Lần sau Mamiya đến bái kiếân thầy thì lại được hỏi đã được gì để chỉ tiếng động của một bàn tay. Tức thì Mamiya ngã lăn ra như thể đã chết rồi.
    "Thôi được, ngươi đã chết," thiền sư quan sát. "Thế nhưng cái tiếng động thì thế nào?"
    "Con chưa giải nó được," Mamiya ngước nhìn lên trả lời.
    "Người chết không nói được," thiền sư bảo. "Cút ngay!"

    Chế Ngự Con Ma
    Một người vợ trẻ bị bệnh và sắp chết. "Em yêu anh lắm," nàng nói với chồng, "Em không muốn xa anh. Anh đừng nên yêu ai nữa nhé. Nếu anh không nghe lời, em sẽ trở về làm ma hành hạ anh không thôi."
    Chẳng mấy chốc người vợ qua đời. Người chồng giữ đúng lời vợ trối trăn được ba tháng đầu, nhưng rồi y gặp và yêu một người đàn bà khác. Họ hứa hôn với nhau.Ngay sau l hứa hôn một con ma hiện ra mỗi đêm trước người đàn ông trách rằng y không giữ đúng lời hứa. Con ma còn rất linh. Nó nói đúng phóc những gì liên quan đến y và tình nhân mới. Khi y tặng cho hôn thê món gì, con ma tả ra với chi tiết. Nó còn lập lại cả những cuộc đối thoại, bực mình đến nỗi y không thể ngủ được. Có người khuyên y nên giải bày với một thiền sư sống gần làng. Mãi lâu, thất vọng quá người đàn ông khổ sở tìm đến thiền sư xin gúp đở.
    "Vợ của ông trở thành con ma và biết được tất cả việc ông làm," vị thiền sư nhận xét. "Bất cứ điều gì ông làm hay nói, bất cứ món gì ông tặng nhân tình nó cũng biết. Nó phải là một con ma khôn ngoan. Đúng ra ông nên cảm phục một con ma như thế mới phải. Lần sau nếu nó hiện ra ông nên thương lượng với nó. Nói với nó rằng nó biết nhiều quá và không có điều gì ông có thể dấu nó, và rằng nếu nó trả lời được một câu hỏi của ông, ông hứa sẽ bải bõ hôn ước và ở giá suốt đời."
    "Câu hỏi gì để con phải hỏi nó?" người đàn ông thắc mắc.
    Thiền sư trả lời: "Vơ một nắm đầy hạt đậu và hỏi nó có bao nhiêu hạt trong tay ông. Nếu nó không trả lời được thì nó chỉ là điều giả tạo trong trí tưởng của ông và nó sẽ không quấy ông nữa đâu."
    Đêm sau con ma hiện ra, người đàn ông ca tụng nó và bảo rằng nó biết hết mọi chuyện.
    "Dĩ nhiên," con ma trả lời, "và ta biết ông đến thăm ông thiền sư bửa nay nữa."
    "Và quả là ngươi biết quá nhiều," người đàn ông yêu cầu, "hãy nói cho ta biết có mấy hạt đậu trong nắm tay này của ta!"
    Không còn có con ma nào để trả lời câu hỏi.

    Kẻ Cướp Trở Thành Môn Đồ
    Vào một đêm trong khi Shichiri Kojun đang tụng kinh thì một tên cướp xông vào với lưởi dao bén đòi tiền hoặc giết ngài.
    Shichiri bảo: "Xin đừng náo động. Ông có thể lấy tiền trong ngăn kéo kia", và tiếp tục tụng kinh.
    Giây lát sau, ngài kêu lên: "Xin đừng lấy hết tất cả. Ta cần một ít để đóng thuế ngày mai."
    Kẽ đạo chích gom góp gần hết và sắp sửa chuồn. "Hãy biết cảm ơn thí chủ chứ," Shichiri nói thêm. Tên cướp nói lời cảm ơn và biến mất.
    Vài ngày sau tên cướp bị bắt và thú tất cả mọi tội, trong đó có chuyện liên quan đến Shichiri. Khi Shichiri được vời đến để đối chứng, ngài bảo: "Ông này không phải là kẽ cướp, ít ra là phần có liên quan đến bần tăng. Bần tăng biếu ông ấy một ít tiền và ông ta có tỏ lời cảm ơn."
    Sau thời gian ngồi tù, người đàn ông kia tìm đến Shichiri và trở thành đệ tử của ngài.

    Không Có Lòng Nhân
    Trung hoa, có một bà lão đã tận tình săn sóc cho một vị tăng hơn hai mươi năm. Bà đã xây một thảo am và lo cơm nước cho ông ta để chuyên tọa thiền. Đến một hôm bà muốn thử xem ông đã tu hành đến đâu. Bà đi tìm được một cô gái xuân tình phơi phới. "Đến ôm ổng," bà bảo cô gái, "rồi hỏi ổng: Bây giờ làm trò gì nữa? "
    Cô gái liền tìm đến vị tăng và chẳng bõ mất thì giờ nhào vào ôm và vuốt ve ông ta, rồi hỏi ông ta làm gì tiếp.
    "Một cổ thụ mọc trên đá lạnh vào mùa đông," vị tăng trả lời một cách văn hoa. "Còn đâu lửa lòng."
    Cô gái trở về thuật lại tự sự.
    "Cứ nghĩ ta đã nuôi y hơn hai mươi năm!" Bà già kêu lên giận dữ, "Y đã không màng đến nhu cầu của cô, y đã không rũ lòng giải thích cho cô. Y không cần phải đáp ứng dục tình, nhưng ít ra cũng phải có chút lòng thương."
    Nói liền, bà đến đốt rụi thảo am.

    Mỗi Phút Đều Là Thiền
    Mỗi thiền sinh phải sống cạnh thầy ít ra cũng phải mười năm trước khi thu dạy kẻ khác. Tenno, vừa trải qua thời kỳ học tập và nay trở thành thiền sư, đến thăm Nan-in. Hôm ấy trời mưa, nên Tenno mang guốc và cặp một cái dù. Sau khi chào hỏi, Nan-in lên tiếng: "Có lẽ ông đã để guốc trước tiền đường. Ta muốn biết chiếc dù của ông nằm bên phải hay bên trái của đôi guốc."
    Tenno bối rối không đáp lại ngay được. Ông ta hiểu ra rằng mình chưa sống thiền trong từng phút. Ông ta trở thành đồ đệ của Nan-in, và học trong sáu năm nữa để đạt đến mức thiền trong từng phút.

    Hối Cải Thực Sự
    Ryokan hiến mình vào việc tu học Thiền. Một hôm ngài nghe nói đến chuyện người cháu phung phí tiền của cho một đào nương, mặc cho sự nguyền rủa của bà con quyến thuộc. Vã lại y là người thay thế Ryokan trong việc cai quản tài sản của gia đình, mà gia sản xem ra có cơ tan biến, cho nên thân nhân mới đến nhờ ngài ra tay.
    Ryokan phải du hành một đoạn đường xa để gặp người cháu mà ngài cách xa đã nhiều năm. Người cháu vui mừng gặp lại người chú và mời ở lại qua đêm.
    Cả đêm Ryokan ngồi tham thiền. Đến sáng, gần lúc ra đi ngài bảo người trẻ tuổi: "Ta đã già, tay run. Cháu có thể giúp ta cột dây chiếc dép rơm được không?"
    Người cháu hăng hái giúp liền. "Cảm ơn cháu," Ryokan kết thúc, "cháu thấy không, một người trở nên già và yếu mỗi ngày. Hãy bảo trọng lấy thân." Xong Ryokan ra đi, không hề nhắc một lời nào đến cô đào nương hoặc lời quở trách của thân nhân. Nhưng kể từ sáng hôm ấy, tính hoang phí của người cháu chấm dứt.

    Ngụ Ngôn
    Trong Kinh, Đức Phật có dạy một câu chuyện ngụ ngôn như sau: Một người đi qua một cánh đồng và gặp một con hổ. Anh ta bõ chạy, con hổ đuổi theo. Đến một bờ vực sâu, anh chụp được một sợi dây leo và đu lững lơ gần bờ vực. Bên trên con hổ đang cúi xuống đánh hơi. Run sợ cuống cuồng, anh nhìn xuống đáy vực sâu lại thấy một con hổ khác đang nhe răng nhìn lên.
    Bỗng lại xuất hiện hai con chuột, một trắng một đen đang gậm nhấm sợi dây leo. Chợt anh thấy một quả dâu chín mọng bên cạnh. Một tay nắm chặt dây, tay kia nhặt quả dâu bỏ vào miệng. Chao ôi sao nó ngọt thế!

    Một Nụ Cười Trong Đời
    Suốt đời Mokugen, chưa ai thấy ngài cười cho đến khi sắp chết. Vào ngày cuối ngài bảo với các đệ tử trung thành: "Các con học với ta hơn mười năm nay. Giờ hãy cho ta thấy lối liễu ngộ thiền của các con như thế nào. Ai biểu lộ rõ nhất sẽ được truyền y bát và kế tục ta."
    Mọi người đều chăm chú vào gương mặt nghiêm trọng của Mokugen mà không ai trả lời.
    Encho, một đệ tử theo thầy đã lâu, bước đến cạnh giường. Ông đẩy chén thuốc tới vài phân. Đó là câu trả lời của ông khi được hỏi đến.
    Nét mặt thầy càng thêm nghiêm trọng. "Con chỉ hiểu có vậy thôi ư?" Mokugen hỏi.
    Encho lại đưa tay ra kéo lui chén thuốc.
    Một nụ cười thật tươi lộ trên mặt Mokugen. "Thằng nhãi," ngài nói với Encho. "Con đã theo ta mười năm mà chưa hề thấy toàn thân của ta. Hãy cầm lấy y bát. Chúng thuộc về con."

    Phật Mũi Đen
    Một ni cô mong cầu giác ngộ, tạc một tượng Phật giát vàng. Đi đâu cô cũng mang tượng Phật theo.
    Mấy năm trôi qua, và vẫn mang theo tượng Phật, ni cô đến trú tại một tiểu tự viện vùng quê, ở đấy có rất nhiều tượng Phật với bàn thờ riêng cho mỗi tượng.
    Ni cô muốn đốt hương cho riêng tượng Phật vàng của mình. Không muốn khói hương bay lan sang các tượng khác, cô mới chế ra một cái phểu để nhờ đó hương đốt chỉ bay lên đến tượng của mình mà thôi. Vì thế mà cái mũi tượng Phật vàng của cô bị nám đen rất xấu xí, kỳ dị.

    Tâm Đá
    Hogen, một Thiền sư Trung hoa, sống ở một ngôi chùa nhỏ trong làng. Một ngày kia có bốn nhà sư du hành xuất hiện và hỏi nếu họ có thể nhóm lửa ở trước sân để sưởi ấm.
    Trong khi nhóm lửa, Hogen nghe bọn họ bàn luận đến chủ quan và khách quan. Ngài tham gia vào và nói: "Có một tảng đá lớn. Quý vị xem nó ở trong hay ở ngoài tâm của quý vị?"
    Một vị tăng trả lời: "Theo Phật pháp thì mọi sự vật đều là biến thái của tâm, tôi có thể bảo rằng tảng đá ở trong tâm tôi."
    "Vậy thì đầu của ngài phải nặng lắm," Hogen quan sát, "nếu ngài phải mang mãi tảng đá như thế trong tâm."

    Tiếng Vỗ Của Một Bàn Tay
    Mokurai là thiền sư của chùa Kennin, biệt danh là Tịnh Sấm. Ngài có một đệ tử được gởi gấm tên là Toyo, chỉ mới có mười hai tuổi. Mỗi buổi sáng và mỗi buổi tối Toyo thấy các đệ tử lớn tuổi hơn thường đến viếng sư phụ mong được chân truyền thiền học và chỉ dạy công án để định tâm.

    Toyo cũng ước được tọa thiền.
    "Hãy ráng chờ thêm nữa," Mokurai bảo. "Con hãy còn bé lắm."
    Nhưng đứa trẻ cứ nài nĩ mãi nên sư phụ cũng chiều lòng.
    Một buổi tối Toyo đến bên ngoài cửa phòng của sư phụ đúng giờ. Cậu đánh chiêng báo hiệu, đãnh lễ ba lần ngoài cửa rồi đến ngồi trước mặt sư phụ trong sự yên lặng kính cẩn.
    "Con đã nghe tiếng vỗ của hai bàn tay," Mokurai bảo. "Bây giờ chỉ cho ta tiếng vỗ của một bàn taỵ"
    Toyo cúi lạy và lui về phòng mình mà quán chiếu đến công án này. Từ cửa phòng cậu ta có thể nghe văng vẳng tiếng nhạc của các cô đầu geisha. "Ồ! có rồi!" cậu reo lên.
    Đêm hôm sau, khi sư phụ bảo cậu diễn tả tiếng vỗ của một bàn tay, Toyo bắt đầu đàn bài nhạc của các cô đầu.
    "Không, không, thiền sư Mokurai bảo. "Chẳng phải thế đâu. Đó không phải là tiếng vỗ của một bàn tay. Con chẳng hiểu gì cả."
    Cho rằng tiếng nhạc văng vẳng quấy rầy quá, Toyo bèn tìm một căn phòng vắng lặng hơn. Cậu ta nghĩ miên man. "Thế nào là tiếng vỗ của một bàn tay?" Cậu chợt nghe có tiếng nước rơi. "Ta được rồi," cậu tưởng.
    Khi cậu gặp lại sư phụ, Toyo bắt chước tiếng nước rơi.
    "Cái gì vậy? thiền sư Mokurai hỏi. "Đó là tiếng giọt nước rơi, nhưng không phải là tiếng vỗ của một bàn tay. Ráng nữa đi."Thất vọng, Toyo mặc tưởng đến tiếng vỗ của một bàn tay. Cậu nghe tiếng gió thỏang. Nhưng lại bị gạt đi.
    Cậu nghe tiếng cú kêu. Lại cũng bị từ chối.
    Tiếng vỗ của một bàn tay lại không phải là của bầy châu chấu.
    Toyo đến và đi cũng phải mười bận viếng Thầy với nhiều tiếng động khác nhau. Tất cả đều sai bét. Cả một năm cậu cứ suy nghĩ về tiếng vỗ của một bàn tay là thế nào.
    Cuối cùng, cậu bé Toyo đi vào thiền định và quán chiếu tất cả các tiếng động. "Con chẳng còn biết thêm tiếng động nào khác nữa," cậu giải thích về sau này, "do đó con đạt đến tiếng động vô thanh."
    Toyo đã ngộ được tiếng vỗ của một bàn tay.




    Em bé và ông lão bán bóng


    Thằng bé lạ hoắc. Chắc nó là đứa bé ăn mày, mới ở đâu tìm tới để xin ăn. Gương mặt thằng bé đườm đượm buồn, nhưng đôi mắt lại ánh lên niềm khát khao thèm muốn. Không hiểu sao ông lão lại cảm thấy thương thương thằng bé.
    Ông lão bán bong bóng trước cổng Trung tâm triển lãm đã lâu lắm rồi. Phải tới gần năm năm trời chứ không ít. Mỗi ngày, cứ vào lúc chạng vạng, ông lão lại chạy chiếc mô bi lét tới, cắm vào chiếc xe một cây cọc bằng tầm vông có rất nhiều cành nhánh vót bằng những thanh tre; trên các cành nhánh ấy, ông thổi và treo những chiếc bong bóng hình các con thú đủ sắc màu, trông rất vui mắt.
    Các cặp vợ chồng trẻ chở con đi chơi thường ghé mua cho con những con thú bong bóng ấy. Hai ngàn, ba ngàn, năm ngàn… đắt nhất cũng chỉ mười lăm ngàn. Món quà tuy rẻ tiền, nhưng trẻ con bao giờ cũng mừng húm. Chúng cầm lấy thanh tre vót nhẵn, quơ quơ con thú sặc sỡ sắc màu mà chúng đã chọn; mắt ngời lên lóng lánh niềm vui, miệng nở nụ cười thích thú. Cả cha mẹ chúng cũng tỏ ra vui mừng hớn hở; họ cám ơn ông lão kèm theo lời hẹn sẽ có dịp trở lại. Ông lão cũng vui. Một tay cầm mấy ngàn bạc, một tay xoa đầu đứa bé, ông lão hồn hậu nói với nó: “Lỡ con làm nó bị lủng, bị xì hơi, con đem đến ông dán lại, ông thổi lại cho. Biết giữ, con thỏ ngọc này sống được hàng năm trời đấy”.
    Từ hai tuần nay, Trung tâm triển lãm rộn rịp hẳn lên bởi không khí Tết. Bên ngoài dày đặc các xe bán cà rem, bán bánh, bán nước ngọt, nước mía, bán khô mực, bán cóc, bán ổi ngâm đường. Xa chút nữa là các dãy bán hoa, bán kiểng, bán chim và bán đủ thứ hàng họ thường bày bán vào các dịp Tết. Bên trong, hội chợ ngồn ngộn hàng hóa, vô khối các trò chơi hấp dẫn; lại cả sân khấu ca nhạc ngoài trời, rạp mô tô bay, rạp diễn trò ảo thuật… Người các nơi đổ về nghìn nghịt. Đông nhất là trẻ con. Ông lão bán không nghỉ tay. Hết đứa này tới đứa khác, chúng hết chọn con thú này lại xin đổi con thú khác; ông lão phải đứng liên tục hàng giờ, bơm bong bóng liên tục hàng giờ. Hai chân mỏi nhừ. Nhất là cái chân trái bị cụt của ông.
    Vào một đêm đang bị quây chặt giữa những đứa trẻ mập mạp, hồng hào, ông lão thốt có cảm giác có ai đó đang nhìn mình. Thì ra có một đứa bé thật. Nó là một đứa bé trai, chừng sáu tuổi, đầu tóc cắt cụt ngủn. Đứa bé vận quần xà lỏn, chân đi một đôi dép mủ cáu bẩn; trên người mặc một tấm áo rộng thùng của người lớn mà nó phải buộc túm hai chéo áo lại cho vừa với tầm thước của nó.
    Thằng bé lạ hoắc. Chắc nó là đứa bé ăn mày, mới ở đâu tìm tới để xin ăn. Gương mặt thằng bé đườm đượm buồn, nhưng đôi mắt lại ánh lên niềm khát khao thèm muốn. Không hiểu sao ông lão lại cảm thấy thương thương thằng bé.
    - Con muốn mua bong bóng phải không? Con ngựa vằn hay con đại bàng?
    Thằng bé nghe ông lão hỏi thì len lén lủi đi mất.
    Tội nghiệp. Nó làm gì có tiền mà mua. Thuở cơ hàn, ông lão cũng từng phải ngược xuôi đi làm thuê làm mướn. Lặn lội tứ xứ, cuối cùng ông lão mới lạc về đây vác cá mướn đêm đêm ngoài chợ cá. Một lần cõng cả một cần xé lớn cá bạc má từ dưới ghe lên, đêm hôm khuya khoắt, trời lại lắc rắc mưa, cầu trơn làm ông lão bị trượt chân, té gãy ống quyển. Do không đủ tiền chạy thầy chạy thuốc, chân trái ông lão bị tháo khớp tới đầu gối. Khi khỏe mạnh trở lại, phải gom góp mấy năm trời ông lão mới sắm được cái chân giả. Cái chân giả bằng nhựa ấy, theo ông mãi cho tới tận bây giờ; nhựa đã ngã màu nâu xin xỉn.
    Đêm ấy, khi dọn dẹp chuẩn bị ra về, không hiểu vì sao ông lão lại thấy buồn kỳ lạ. Nỗi buồn day dứt đeo đẳng đã xui khiến ông lão ghé chiếc xe cà tàng vào một quán cà phê. Ông lão ngồi nhấm nháp từng giọt đắng, nhưng trong lòng không hề cảm thấy khuây khỏa; trái lại, một thứ tình cảm mơ hồ cứ càng lúc càng trỗi lên trống vắng.
    Đúng lúc ông lão định gọi chủ quán trả tiền, bất chợt ông lão nhìn thấy đứa bé mà ông đã hỏi nó có mua bong bóng không. Chắc nó tìm tới đây kiếm chỗ tá túc qua đêm. Thằng bé có vẻ đói và mệt. Lang thang vạ vật cả ngày ngoài phố, chắc gì nó đã kiếm đủ miếng ăn.
    - Con ơi (ông lão gọi)! Tới ông biểu nè!
    Thằng bé rụt rè bước lại một cách thận trọng.
    - Con tên gì?
    - Tên thằng Đực (Đứa bé trả lời).
    - À, đúng, đúng. Con là thằng Đực đây mà. Vậy chớ ba má con tên gì?
    - Con hổng nhớ nữa. Con đi bụi từ nhỏ lận.
    - Ừa, đúng. Năm nay con lên sáu chứ gì. Con tên là Huỳnh Văn Đức. Tại con nhớ lộn là thằng Đực. Ông nội con tên là Huỳnh Văn Quang. Nhà con ở xóm Bún phường hai. Con bị lạc ông nội con từ nhỏ.
    Thằng bé ngước cặp mắt đen láy nhìn ông lão, hỏi một cách đầy tin tưởng:
    - Làm sao ông biết con tên Huỳnh Văn Đức, sáu tuổi, nhà ở xóm Bún?
    Ông lão kéo đứa bé vào lòng, xoa đầu nó mà nói một cách âu yếm:
    - Biết chứ! Vì ông chính là ông nội của con. Ông đến đây bán bong bóng là để tìm con.
    Thằng bé nhủi cái đầu khét nắng vào ngực ông, hỏi:
    - Ông nội, ông là nội của con thiệt à?
    - Thiệt chứ! Con là cháu nội yêu quý nhất của ông. Ba con là thầy giáo, tên là Huỳnh Văn Rạng. Má con cũng là cô giáo, tên là Nguyễn Ngọc Tú. Ngày mai ba má và ông nội sẽ đưa con đi sắm quần áo Tết.
    Đứa bé nghe nói tới đó thì oà ra khóc mùi mẫn.
    - Hức hức… Nội ơi! Vậy mà tụi nó biểu con là đồ không cha không mẹ. Tụi nó biểu con là đồ con hoang.
    Ông lão thấy cay xè nơi sống mũi, nơi hai đuôi mắt. Ông ấp cả hai bàn tay thô ráp lên lưng của nó mà vỗ vỗ.
    - Tụi nó không biết nên nói bậy đó con. Con là Huỳnh Văn Đức, là cháu nội của ông. Bây giờ ông cháu mình về nhà ăn cơm. Sáng mai cả nhà mình cùng đi chợ Tết, tụi nó sẽ biết con là cháu nội của ông.
    Ông lão đứng dậy, biểu đứa bé leo lên ngồi sau yên chiếc xe mô bi lét, rồi ra sức đạp máy. Khi chiếc xe phát nổ phành phạch, xịt khói mù mịt, ông lão mới sực nhớ là mình chưa trả tiền cà phê. Ngoái lại, ông lão thấy bà chủ quán đang nhìn mình. Ông lão đang định xuống xe để trả tiền, nhưng bà chủ quán cứ đưa cả hai bàn tay mà khoát khoát ra ngoài. Ông lão hiểu là bà ta muốn nói, lúc nào trả tiền sau cũng được.
    Khi chiếc xe chạy ra đường bờ sông, gần tới công viên Sông Tiền, ông lão nói với đứa bé:
    - Còn mấy hôm nữa là tới giao thừa. Tết năm nay là Tết con chuột. Chuột Mickey, khôn lắm đó con! Năm nay ông cháu mình hên lắm con ạ!
    Thằng bé vòng tay ôm chặt lấy tấm lưng gầy guộc của ông lão, nói một cách hồn nhiên:
    - Hèn chi hồi chiều con cứ hắt hơi hoài hà! Hổng biết ba má có nhận ra con không nữa?
    - Nhận ra chứ!
    Ông lão nói một cách khẳng định. Nhưng trong bụng ông lão lại nghĩ: phải làm sao cho tụi nó biết được tên thằng nhỏ bây giờ. Tụi nó không biết, lỡ tụi nó hỏi thằng nhỏ tên gì, con ai thì ông biết đối đoái làm sao. Nhưng không sao, tụi nó là giáo viên tiểu học, tụi nó sẽ hiểu, sẽ biết ngay mọi chuyện thôi mà. Về tới nhà mà nhìn thấy tụi nó, ông sẽ nói to lên mừng rỡ: “Tía mới tìm được thằng Đức đi lạc mấy năm đem về rồi nè! Mau ra mừng con tụi bây trở về rồi nè!”. Vậy là tụi nó hiểu chớ gì.
    Một ngọn gió mát rượi trỗi lên từ dòng sông dào dạt sóng. Mùa xuân phả nhẹ hương đêm dìu dịu trên đường phố. Tiếng máy xe nổ phành phạch như tiếng hát.
    Bài hát ấy, chỉ ông lão bán bong bóng và đứa bé mới hiểu được giai điệu sâu lắng của nó mà thôi.




    2/21/2008

    Chuyện Thằng Bờm



    - Thằng Bờm là ai? 
    - Thằng Bờm là thằng bờm !

         Thời ông Lý Bơm, sổ đinh của làng ghi là Lý An Bờm; sang thời ông Lý Nhõn ghi là Trần Bờm, rồi sau đó, không hiểu thế nào, lại chữa ra Lê văn Bờm; đến thời ông Lý Cai, năm chạy lụt, sổ đinh không biết đi đằng nào, sau lập lại không biết ghi là gì; hỏi dân làng, người nào mặt cũng thộn ra, bèn cứ đề phứa là Nguyễn Quốc Bờm cho nó đẹp đẽ, phân miêng sổ sách ... Rốt cuộc, chính Bờm vẫn chẳng biết họ của mình là gì.
         Bình thường, nếu là người đọc sách, dạy học như ông đồ Tú cuối làng, đều được cả làng gọi là ông Đồ Nguyễn hoặc bạn bè đồng môn trước đây gọi là Nguyễn tiên sinh. Còn người thường, không có gì nổi bật, thì chí ít cũng được gọi là anh cu, bố hĩm. Nó chẳng có gì na ná như vậy ngoài cái đầu bù xù khét nắng nên dân làng, vốn giản tiện, gọi béng là Bờm. Bờm chỉ khoái tắm sông thả diều, đốt rác ngoài đồng, ngủ trên bãi cỏ, nô với trẻ trâu ... thấy cái thứ gọi là họ ấy cũng không có lợi hại gì, nên cũng chẳng để ý. Sau này, có ai trêu chọc mà hỏi, Bờm bảo họ của nó là Thằng. Ấy là tự Bờm nói; người khác nói thì e đã có chuyện lớn. Thỉnh thoảng, đi qua lớp học của ông Đồ Nguyễn, ghé mắt nhòm vào thấy trên mặt giấy rặt có một thứ loằng ngoằng, dọc ngang chéo giật, Bờm tự thấy mừng cho mình vì chả có ai bắt nó đến đấy ngồi suốt ngày, còng cả lưng, rồi vẽ ra giấy những thứ chết tiệt như vết chân gà choai bới đất, đọc lên nghe lạ hoắc lạ huơ đến nẫu cả ruột.
         Nghèo thì nghèo, Bờm cũng hữu sản đấy. Tài sản của Bờm là một cái quạt mo. Với người bình thường thì đồng tiền liền khúc ruột; với Bờm, cái quạt mo là vật bất ly thân. Xem diễn chèo ở sân đình làng, thấy vua quan ông nào cũng cầm một cái quạt trên tay. Thế thì Bờm đâu có ý chơi trội. Người ta bảo Bờm dở hơi, Bờm dốt, Bờm mù chữ, Bờm ăn no vác nặng, ăn đói cũng vác nặng. Ừ thì dở hơi, nhưng Bờm lại biết bơi, và riêng cái khoản bơi lặn này thì cả làng đừng hòng có ai bì kịp.    
                Trong làng - trừ thằng mõ, thỉnh thoảng lén các cụ ngoài đình, dúi cho nó nắm xôi - Bờm chẳng thân với ai. Cả làng, từ người già đến con trẻ, chẳng ai coi nó vào đâu. Bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, ai cũng có thể tự cho mình cái quyền chính đáng lấy nó ra mà chấm phá vui vẻ, mà làm những trò cười cợt bỉ ố rồi cười ré lên với nhau cả một lượt. Từ bé, Bờm đã quá quen với những trò đó nên nó chẳng giận, lắm lúc còn thấy vui vui là khác. Cái cảm giác thấy mình vẫn còn hơn chán vạn một cái mụn cơm cũng không phải là xoàng. Vừa hiền lành, vừa ngố ngá, ai nói gì cũng chỉ ngẩn ngơ cười, lại không có tính dỗi giận, nó chẳng bao giờ có thể trở thành một kẻ hay ho đến mức khiến người khác phải đem lòng tỵ hiềm mà ghen ghét hãm hại nên nó không có kẻ thù. Và, cũng vì thế nó chẳng thể có bụng ghét ai cho được. Tuy vậy, đôi lúc, như có Mẫu nhập, cái mồm của nó cũng không phải vừa ! Kẻ hẹp lòng, thường khó chấp nhận những cái hay ho của người khác, thì bảo: Điếc hay ngóng, ngọng hay nói, chó ghẻ có mỡ ở đuôi. Người rộng bụng, lại có được ít chữ thánh hiền thì bảo: Bờm nhập đồng đấy !  Tất nhiên, ngày nay, khi khoa vật lý chất rắn đã khá phát triển, thay vì dùng chữ nhập đồng, người ta hay nói thăng hoa; của đáng tội, cái chữ ấy nghe có gì đấy rất tinh thâm, bay lượn đáo để và, điều quan trọng nhất, không phải ai cũng có thể lập tức hiểu được.
     
    *
     
    Mấy năm trước, người Tàu rầm rộ đem quân sang định cai trị nước Nam. Chẳng cần biết nếu kẻ ngoại bang đến thì cuộc sống của nó có trở nên tồi tệ hơn hay không, Bờm cũng cứ nằng nặc xin quan cho được xung vào lính. Rồi Bờm cũng băng rừng vượt núi, cũng màn trời chiếu đất, cũng cầm giáo xách khiên xung trận, cũng hò hét vang trời, hùng tráng chẳng kém ai: "Đả bỏ bu mấy thằng con giời đến cướp làng nước người ta đi !".
                Giặc tan, vua trở về cung, quan trở về phủ, còn Bờm thì về làng, đầu đội nón đấu, chân quấn xà cạp. Trẻ con thấy lạ chạy theo hàng đàn. Người lớn dí dủm tò mò, quây lấy Bờm hỏi chuyện trận mạc. Được ngày đầu còn oai phong vui vẻ; sang ngày thứ hai thì đã nhàn nhạt; đến ngày thứ ba thì Bờm đã thấy cái bụng của mình đang réo lên từng cơn từng hồi. Rốt cuộc, vẫn phải có cái gì đấy mà nhét vào bụng. Và như vậy, xem ra, vị thế của nó cũng chẳng có gì đổi thay. Vẫn chẳng ai coi nó vào đâu; người ta đã quen mất cái nếp ấy đi rồi. Bờm cũng có bị hẫng hụt chút đỉnh. Nhưng sự hẫng hụt của cái tâm trạng hân hoan đại tráng ấy rồi cũng qua ngay, bởi chính Bờm cũng chấp nhận và nhanh chóng trở về với cái nếp cũ rất quen thuộc ấy. Cuộc sống lại tiếp diễn, đều đều, đơn điệu như tiếng sáo diều ve vắt, trầm nhẫn ngoài bãi sông, bến nước. Vẫn như trước, ngoài cái quạt mo đã lên nước bóng láng ra, trong người Bờm chẳng có thêm vật gì, thậm chí chỉ là một cái dùi. Bờm không thích dùi; nó bảo dùi là cái có thể làm đau người; vả lại, trên cái giang sơn gấm vóc mà nó vừa đem thí cả cái thân thể hôi hám yêu quý của nó để khỏi bị người Tầu cướp mất, Bờm cũng chẳng có chỗ nào để có thể đàng hoàng cắm cái dùi đó xuống cho được. Cũng chỉ tại Bờm không có tiền, Bờm chỉ có độc cái thân xác. Thân xác của Bờm, chủ yếu, cũng chỉ có xương với máu. Nhưng thức gì cũng có mùa của nó: Thứ này rất cao quý trong những đận trận mạc, nhưng đến lúc thái bình vãn hồi thì chỉ có thể bán cho Thiên Lôi ! Nhưng, khốn nỗi, Thiên Lôi lại là thần tiên. Thần tiên thì chỉ dùng loại tiền vàng mã.
                Tiếp tục cuộc sống cũ: Ai thuê cày thì Bờm cày, ai thuê tát nước thì Bờm tát nước, ai dựng nhà làm bếp thì Bờm đến khuân vác phụ giúp. Được cái, những nhà có việc hiếu việc hỷ, chẳng bao giờ người ta quên Bờm, bởi nó xăng xái và được việc, lại chỉ bảo ăn thì mới ăn, và không bao giờ mở miệng nói chuyện công xá. Mà dù nhà chủ có tử tế trả công thì nó cũng nhất định không nhận; nó bảo: "Bờm nhận thì Bờm đếch dám nhìn mặt người làng nữa !". Nếu trời cứ cho mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt thì thỉnh thoảng Bờm mới bị đói. Trong làng, Bờm là người lao động tự do; và xét trên một ý nghĩa nào đó, ít nhiều, Bờm là kẻ góp phần khai sáng ra một hình thái xã hội mà nhiều trăm năm sau hậu duệ của Bờm gọi là xã hội công nghiệp.
                Trong làng còn có Phú ông. Phú ông là người khoẻ mạnh, da nâu râu rậm, mặt tựa chữ điền, giọng nói oang oang, thích rượu ngon gái đẹp, lắm vợ nhiều con và nổi tiếng là kẻ tham công tiếc việc, thường hay tính toán lo xa quá đáng, tự mình đày đoạ cái thân mình, trần lưng làm lụng như trâu húc mả; lại thêm bệnh hạt tiện kinh niên, bóp mồm bóp miệng, hay tiếc của giời, nên cũng có lúc trả công cho người làm cũng sát sao quá lắm. Tiếng là hùng hục, là bóp mồm bóp miệng, nhưng trời lại phú cho lão cái giọng nói sang sảng, cái lối đi đứng oai vệ; oai vệ đến nỗi lý trưởng và các chức dịch trong làng trong xã cũng phải vô tình mà học theo. Lão quen thấy được mọi người trọng vọng nể vì. Kể cả kẻ chức dịch hàng xã, tuy đã cố lấy cái vẻ công quyền nghiêm nhã để đãi giao mà vẫn không sao giấu được vẻ khúm núm dúm dó trước kẻ phú hào ngỗ ngược đó.
    Hồi quân Tàu tràn sang, Phú ông lúc ấy tuổi cũng đã cưng cứng, chẳng có lệnh nào bắt mà cũng cứ nhất quyết đòi xung lính một lần với Bờm. Trong quân, Lão và Bờm là người cùng làng, lại được phiên vào cùng một ngũ, cùng xa nhà và sống giữa bao người khác xứ, nên có phần gần gũi nhau hơn. Trong trận hỗn chiến Bắc Thạch Sơn, trong lúc hò hét, đâm tả chém hữu, Phú ông bị trúng một mũi tên vào bả vai; chính Bờm đã dìu lão ra xa nơi gươm giáo loạn xạ, nhổ mũi tên đó ra, nhai lá thuốc đắp vào vết thương và xé toang cái áo mới tinh mà thằng mõ dúi cho hôm lên đường xuất chinh, vừa buộc thuốc vừa cắm cảu:
    - Đánh nhau mà mặt mày cứ hơn hớn lên dư thế thì nó bắn cho thế cũng là phải !
    Phú ông ớ mặt, lấy tay trỏ vào mặt Bờm:
    - Thằng này láo ! Sao mày dám hỗn với ông ?!
    Đến lượt Bờm ớ mặt, rồi nó cũng nhớ ra Phú ông là ai. Nó bèn chắp hai tay lại, bảy phần hối, ba phần nhả nhớt:
    - Nhà cháu nhỡ mồm, ông tha cho, từ rày không nói nữa ! Nhưng ... - Như chợt nhớ ra điều gì, Bờm hét tướng lên - đếch được !
    - Sao lại không được ?
    - Có mồm mà đếch được nói thì hoá ra cái giống trâu bò à ? Làm trâu bò để suốt ngày bị ông hết vắt rồi lại diệc à ? Còn xơi nhá ! Nhà cháu đếch phải là cái giống ấy đâu nhá, đừng có mà mơ !
    - Thế những thằng câm thì chúng nó là trâu bò cả đấy ?
    - Bị câm thì kể làm chó gì ! Còn Bờm đây đếch bị câm. Đếch bị câm mà không được nói thì chết cụ nó đi cho khoẻ ma ! Dưng mà Bờm đây lại … - nó đưa tay lên gãi gáy, ngoẹo đầu, cười tinh quái - … ngại chết lắm !
    Một lần, trong một đêm ngủ rừng, Phú ông bảo:
                - Mày đúng là thằng dớ dẩn, đéo ai bắt lính thằng dở hơi mà phải tớn vào lính cho nó khổ ải ?!
                - Nhà cháu cứ tưởng ông là người giàu có thì tinh khôn lắm, hôm nay mới thấy hoá ra đếch phải.
                - Tiên sư thằng ranh ! Mày tinh khôn thì nói ông nghe tại sao tự dưng lại đâm đầu vào chỗ khổ ải ?
                Bờm cười nhăn nhở, gãi bụng xồn xột, rồi vỗ đùi đánh đét một cái:
                - Có nhẽ nhà ông tối dạ thật ! Thôi, để nhà cháu giảng cho mà nghe nhá: Khổ ... thì cũng chả khổ hơn lúc ở làng, dưng mà nhà cháu được no cái bụng, được đối xử ngang phân với nhà ông ! Ối giời ơi, thế mà cũng đòi vác mặt làm người giàu cơ đấy giời ạ !
    -  Mày có thể bị bỏ mạng nơi trận mạc !
    -  Chậc … chết thì cũng có khác chi người đi ngủ tít thò lò, mà lại được cái oai phong vẻ vang với thiên hạ làng nước !
    Rồi Bờm cứ thế nằm ngửa, giơ hai chân lên trời quậy đạp nhung nhăng mà cười ngặt cười nghẽo. Cười chán, rồi nó hỏi lại:
    - Thế dưng nhà ông có nhiều thóc lúa, tiền của, vua lại chửa bắt đến, sao không ở nhà mà hưởng cho nó phè phỡn cái thân xác mà lại không dưng đâm đầu vào chỗ đâm chém nhau đến nỗi toé cha nó cả máu ra ?
    - Cái thằng ... hỗn như ranh ! Ngu như mày thì hiểu thế chó nào được ! Để ông giảng cho mà nghe: Nếu người Tàu nó thắng, nó bắt Vua mình đi thì mày có thấy bẽ không ?
    - Ừ nhỉ ! - Bờm ngẩn mặt, thôi không cười nữa.
    - Nhục cái mặt lắm con ạ ! Mà Tàu nó thắng thì nó đến nó cướp ráo đi ấy chứ; nhà tao còn giữ được thóc lúa của tiền à ? Còn cái chó gì nữa mà phè phỡn cái thân xác ? Có mà cả làng cả nước hoá ráo thành cái giống bờm nhà mày hết thôi con ạ ! Nhục lắm ! Nhục lắm ! - Phú ông ngán ngẩm lắc đầu - Mỗi làng chỉ có một thằng bờm đã là quá nhiều rồi. Hoá nên tao mới chủ tâm đi đánh cho bỏ con mẹ cái lũ chúng nó đi !
                Khi giặc tan, cả hai khăn gói quả mướp về làng.
                Một buổi sớm, nhân lúc việc đồng vừa vãn, ngồi trong nhà nhìn ra sân thấy rặng cúc đại đoá đua nhau nở rộ; trên những tán lá rặng mít mé bếp, chim chóc chuyền nhảy sào xạc, chít chiu vui vẻ, trong người thấy mười phần thư thái; sực nhớ có ấm trà ngon, Phú ông bèn sai người làm gọi Bờm đến cùng uống.
                Cầm cái chén Phú ông đưa cho, Bờm dốc ngược làm một ực, rồi nhẩy cẫng lên, xuýt xoa nhăn mặt. Phú ông nhìn Bờm, cười rộng ngoác:
                - Thôôấct bảo, tội chó gì mà phải ngủ đường ngủ chợ, nắng mưa muỗi rệp nó hành cho; lại bữa no bữa đói, chẳng ra làm sao; về ở cho nhà tao, tao không bắt làm nhiều đâu, tao lo cho mày lúc nào cũng no như khi còn ở lính.
                - Ông cứ đùa nhả - Cái cổ Bờm rụt lại, hai tay xoa vào nhau, cười nhăn nhở - Có đời thuở nhà ai làm ít mà lại được ăn no bao giờ ? Nhà cháu mà làm người giàu thì nhất định đếch chơi như thế.
                Phú ông ngây mặt:
    - Ơ hay … tao nói thật đấy !
    - Thật cái phải gió đùng lăn !
    - Tiên sư cái thằng … mày thấy ông thất tín bao giờ chưa ?
    - Nói ông tha lỗi, giá kể nhà ông nói thực, nhà cháu cũng đếch thèm ! Ở một mình tiếng là phất phơ lơ lửng, dưng mà nó tự tiện đủ bề: ngủ nghê bằng thích, ưng làm thì làm, khoái chơi thì chơi, chả bị ai chửi bới mắng nhiếc liên hồi kỳ trận, thập phương khí gió bao giờ.
    - Gàn lắm con ạ. Thế thì tao bảo thế này, mày xem có được không: Mày đến ở hẳn nhà tao, làm sòng phẳng, lấy công sòng phẳng; chẳng thằng đéo nào nợ thằng nào. Trừ tiền ăn đi, còn bao nhiêu tao giữ hộ. Tích cóp đến khi nào đủ mua được ruộng, tao cắt ruộng cho mày ra làm riêng.
    - Vớ vẩn - Bờm lừ mắt, liếc xéo sang Phú ông - Có hoạ trạch đẻ ngọn đa !
    Phú ông ớ mặt, vỡ nhẽ:
    - Cái giống bờm nhà mày ... Đúng là cái thứ tự chủ tự tác ăn mày, có hôm nay không nghĩ tới ngày mai. Thôi tuỳ ! - Lão lắc đầu, thở dài rồi nhoài người với lấy cái tráp để trên nóc tủ chè, mở nắp lấy ra mấy nén bạc - Chỗ chiến binh với nhau, cầm lấy một ít, phòng lúc không có ai thuê làm gì, thêm vào mà ăn. Khi nào ngặt quá thì lại bảo tao một tiếng.
    - Nhà Bờm đếch thèm ! Nếu ông có việc gì thì thuê Bờm. Bờm làm Bờm lấy công. Ông bỏ tiền ra ông được việc. Úm ba la hai ta cùng khoái.
    - Tiên nhân cha thằng này, nghênh ngang khệnh khạng quá thể ! - Phú ông đập tay xuống bàn cái rầm, đứng phắt dậy, mặt đỏ lựng, hầm hầm trỏ tay ra phía cổng - Cái giống đã ngu mà còn khái hão thế thì suốt đời là con chó ! Cút ngay ! Từ rày cấm chỉ lảng vảng quanh đây làm khổ mắt tao !
    Bờm bị bất ngờ, vai hơi so lại, không cười nữa, nhìn Phú ông một lúc rồi lừ lừ đi ra. Đến giữa sân, nó dừng lại, không biết nghĩ thế nào liền vén quần tè một bãi lênh láng, rồi cúi người buông hai ống quần xuống, nguyềnh ngoàng bước qua cổng. Từ đó, Phú ông chẳng bao giờ cho người gọi Bờm đến nhà nữa. Phần Bờm, nó cũng chẳng bao giờ lảng vảng đến gần khu nhà của Phú ông. Hai gã cựu chiến hữu, kẻ giàu người nghèo ấy, đã tuyệt giao một cách huy hoàng !
     
    *
     
                Năm ấy gặp nạn châu chấu, mùa màng cả một vùng rộng lớn mất trắng. Bếp núc nhà nào cũng nguội tanh, mạng nhện giăng ngang miệng các loại nồi đồng nồi đất. Nhìn vào, nhà nào cũng tựa nhà hoang. Dân tình vật vờ xiêu vẹo, trông ra ngoài đồng chỉ thấy vàng mơ, nhìn vào trong nhà chỉ tổ mờ mắt; khắp chợ cùng quê, đâu đâu cũng thấy cảnh ấy. Năm thì mười hoạ, được ít thóc gạo ân đức mưa móc của Vua đem đến cứu tế thì bị quan nha, sai dịch cuỗm mất đến quá bảy phần. Củ ráy, củ chuối đã bị đào tới gốc cuối cùng; lá sung, rau dại bói cả ngày cũng không ra nổi một lấy một chét. Giặc dã, trộm cướp nổi lên tứ tung khắp nơi như ong như rươi. Dân gian cùng khổ, phấp phỏng nơm nớp, lo hãi còn hơn cả cái đận giặc Tàu tràn sang.
                Nghe nói ở vùng trên có một nhóm tự động kết đảng, tự xưng là Dân Nghĩa, chuyên đến cướp của nhà giàu đem chia cho kẻ khó, ai ai cũng mừng vui, mong chờ khắc khoải. Bờm cũng mừng vui, nhưng Bờm chẳng chờ; Bờm thích thì Bờm mần luôn. Bờm đã tự đi lính, tự chém được giặc thì Bờm cũng khắc tìm đến chỗ có đám người ấy được. Vậy là Bờm đi, chỉ khác với lần ra đi trước là trên chéo vai không có khăn gói quả mướp và thằng mõ chí cốt thì đang vàng mắt vật vờ.
    Trèo đèo lội suối, thất thểu xiêu vẹo, tưởng đã chết mất xác, cuối cùng Bờm cũng tới được Nghĩa trại. Một cô gái xinh đẹp như hoa tươi cười xúc cho Bờm ba bát gạo. Bờm lừ mắt, phẩy tay: "Đằng ấy có mắt cũng như không. Tớ đến đây là để cùng đi lấy thóc chia cho kẻ khó chứ đếch xin cứu đói đâu nhá !".
    Cuối cùng, Bờm cũng trở thành người của Nghĩa trại. Tuy là loại nói chẳng nên lời, nhưng Bờm làm việc năng nổ, quyết liệt, không khoan nhượng, được trưởng trại cả khen: "Đáng mặt anh hùng !". Nhưng rồi, dần dà, Bờm nhận thấy thóc lúa, của cải chia cho dân chỉ được có vài phần, số còn lại được chở tất về trại. Mỗi khi ra quân, đi hành sự ở các làng, tất cả, ai cũng ăn mặc rách rưới, nét mặt căm phẫn chí công. Nhưng hễ về đến trại liền tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo lụa, ăn thịt gà luộc, uống rượu nếp cái, cùng nhau chén chú chén anh đến bí tỷ mới thôi.  Khi đó, mấy cô trẻ măng nõn nà, vẫn ngồi bên đong đưa chuốc rượu, mới dìu các đàn anh về buồng nghỉ ngơi và ở tịt luôn trong đó. Vì thế Bờm đâm thấy chán. Khi cái chán đã dâng đến mang tai, Bờm bảo với mọi người:
    -  Bờm nhớ quê lắm, đếch bè đảng nữa. Bờm về quê thôi.
    Một đàn anh ngạc nhiên, hỏi:
    -  Đã kết đảng sao giữa chừng lại bỏ ?
    Bờm cười, chán nản đay từng tiếng:
                -  Đã bảo, tớ kết đảng là để lo cho các làng thoát nạn đói, chứ đếch phải để kiếm chác !
    Mấy đàn anh có vẻ kém vui, không nói gì. Trong bữa tiệc tiễn Bờm, Nghĩa trại trưởng nâng chén rượu, bi tráng nói cùng anh em: "Bờm về quê là một tổn thất lớn cho đại nghĩa, đại sự. Anh em mất đi một bạn hữu trung hậu, chí tình; Nghĩa Trại ta mất đi một người ưu tú giỏi giang; dân lành mất đi một chỗ dựa vững chắc ... !".
    Thế là Bờm về làng thật, nhưng không làm khách, khi đi vẫn nhớ mang theo một đẫy đầy gạo về cho Thằng mõ. Trên đường về, đang buồn bã men theo một sườn dốc thì đột nhiên nghe tiếng soạt … một gã vận đồ nâu, đầu chít khăn lưỡi rìu, tay lăm lăm lưỡi mác sáng loáng nhảy vọt từ trong bụi ra, chắn ngang lối đi. Bờm chột dạ, định thần nhìn kỹ thì nhận ra đó là thằng Quảng Chuột, đệ tử ruột của Nghĩa trại trưởng. Bờm dừng chân:
    -  Có việc gì ở đây ? Sao lại phải nấp trong bụi dư thế ?
    Quảng Chuột mặt lạnh tanh, đôi tròng mắt trắng dã, cười nhếch mép:
    -  Để giữ thanh danh cho Nghĩa Trại, bất đắc dĩ mới phải làm thế này. Đây cũng chỉ tuân thượng lệnh thôi. Xin đắc tội !
    Dứt lời, Quảng Chuột vung mạnh thanh mã tấu, bay thẳng vào người Bờm. Do được huấn luyện trong lính và có chút ít kinh nghiệm đánh quân Tàu trước đây, Bờm, nhanh như một con chèo bẻo, thoắt né người về phía vách núi, tiện tay ném luôn cái đẫy gạo vào người gã sát thủ. Quảng chuột lạc đà hẫng người, lại bị sức đẩy của cái đẫy gạo, cứ thế lao thẳng xuống vực.
     
    *
     
    Thằng mõ gặp lại Bờm, lại được một đẫy ngọc thực nên càng mừng mừng tủi tủi. Nó vội đem gạo chia cho mấy nhà hàng xóm. Nhưng cũng chỉ mát mặt được dăm hôm. Cuộc sống cả làng vẫn vật vờ, ngày ngày vẫn lũ lượt vác bát đến cổng nhà Phú ông nhận vài môi cháo cầm hơi, khắc khoải mong ngày lúa chín. 
    Một hôm, Bờm đang cùng đám trẻ trâu đang nướng quả khủng khẳng ăn với nhau ngoài rịa núi, bỗng thấy xao xác trong làng. Vốn hiếu sự và thích hóng hớt, Bờm bỏ cả mẻ khủng khẳng, lúc ấy đã bắt đầu toả ra một mùi thơm ngọt ngai ngái, cắm cổ chạy một mạch về làng.
    Bờm nhanh chóng đánh hơi được đám đông đang có sự và, tức khắc, nó đã có mặt. Đó là bãi đất nhỏ trước cổng nhà Phú ông. Cảnh tượng bày ra trước mắt nó là: Phú ông, mặt mũi tím bầm rớm máu, đang bị trói giật cánh khuỷu vào cái cọc cây rơm, râu tóc dựng ngược, gò má dựng ngược, mắt cũng trợn ngược, nhìn trừng trừng vào tay thủ lĩnh, miệng chửi toáng lên: "Chúng mày là tuồng xiêng ăn nhác làm, chỉ có thể đi làm kẻ cướp ! Có giỏi, có sòng phẳng thì cùng tao một chơi một ! Lũ hèn chúng bay mà dám ư ?!". Xế về phía cổng nhà là đám vợ con đang khiếp hãi kêu khóc như nhà có tang. Giữa đám đất là một đống những bao lúa căng ních, chất cao ngồn ngộn. Bên đống bao lúa là toán người mã tấu tuốt trần, mặt mũi hằm hằm, toả ra nhiều sát khí. Khép kín xung quanh bãi đất là đám dân làng đang nhớn nhác sợ hãi, nhưng không biết phải làm gì. Tay thủ lĩnh đứng ra giữa khoảng trống, ưỡn ngực chí công:
    - Mời bà con vào lĩnh phần !
    Cả làng đứng im, không một cử chỉ đáp lại. Thấy vậy, thủ lĩnh lấy tay trỏ vào mấy người đứng ở hàng đầu, bảo vào lấy trước. Vẫn không có ai đụng đậy. Hắn liền nắm lấy cánh tay chị cu Tuất mà kéo vào. Chị cu Tuất cố vằng ra nhưng không được, liền tru tréo lên:
    - Ơ hay, có buông ra không, sái cả tay người ta rồi đây này ! - Tay thủ lĩnh tẽn tò buông tay ra, chị chàng hẫng đà, lảo đảo rồi đứng chững lại, đưa hai tay sửa lại cái độn tóc bị xệch sang một bên đầu - Ngày nào cả cái làng này chả ăn cháo của ông ấy. Ông ấy là người tử tế, chăm chỉ; của người ta là của mồ hôi nước mắt, lấy sao được !
     Có nhiều tiếng xì xào trong đám đông: "Phải !"; "Ai mà làm thế được !"; "Có hoạ là ăn cướp !" ... Không hiểu tay thủ lĩnh có nghe thấy gì không, chỉ thấy hắn thoáng lúng túng rồi yếu ớt tuyên bố:
    - Vậy là dân chúng ở đây không có nhu cầu. Anh em đâu, chuyển số thóc này đi chia cho làng khác ! Đem theo cả thằng Phú ông này về Nghĩa trại để xử nó về tội dám bôi nhọ, dám choảng lại những người thay giời hành đạo !
    Từ trong đám đông, nhanh như cắt, Bờm văng người vào phía trong vòng người, trụ chân, đứng sừng sững; gió thổi lộng phồng hai vạt áo trước, lừ lừ nhìn tay thủ lĩnh từ đầu đến chân:
    - Không được đâu nhá !
    - A, anh Bờm cũng ở đây à ? Đã xa nhau mấy tháng nay ! - Thủ lĩnh tươi cười, mộc mạc nói với Bờm.
    Bờm, nhanh như một con chim chả, bất thần đoạt lấy thanh mã tấu của một kẻ trong toán, nhảy liền hai bước đến chỗ cái cột rơm, đứng chắn trước mặt Phú ông, khom người, hướng mũi mã tấu về phía tay thủ lĩnh:
    - Nhà chúng bay là thế nào chẳng qua tao đã biết hết tiệt cả rồi. Thế hoá nên tao mới sinh ra chán ở với chúng bay. Tạnh ngay những cái nhời tử tế lừa đảo ấy đi nhá ! Nói cho mà biết, khi Phú ông cầm giáo xách mộc đi đánh giặc Tàu thì chúng bay đang phiêu lưu ở tận tít dững đéo đâu ? Muốn đưa Phú ông mấy lại dững cái bao lúa này đi thì phải đâm chết được tao đã !
    Dân làng ồ lên đồng tình và trong đám đông dường như đang ngầm có sự vận động ... có mấy người nhanh nhẹn đã lấy được gậy, được dao đang chạy trở lại bãi đất. Nhận thấy tình thế không ổn, tay thủ lĩnh kín đáo đưa mắt cho đồng bọn và cả toán lặng lẽ, thận trọng rút lui.
    Bờm dùng cái mã tấu cướp được cắt giây trói cho Phú ông. Phú ông bị trói lâu, đánh phũ, tê dại cả chân tay mình mẩy thì không đứng vững được và ngã queo xuống đất. Bờm cõng phú ông vào nhà, bảo vợ con lão chăm nom, rồi xoay lưng toan bước ra.
    - Bờm ơi ! - Phú ông gọi giật - đừng đi vội, có điều này ... quay vào đây !
    - Nhà ông bảo gì nhà cháu ? - Bờm quay vào.
    - Bờm ở lại mấy hôm chữa vết thương cho ta. Hồi ở lính ta biết Bờm có nhiều bài thuốc mà. Thấy người bị nạn mà làm ngơ thì còn chó gì là Bờm nữa !
    Nghe vậy, Bờm thấy thích lắm, bèn ở lại, đi hái lá chườm và đắp cho Phú ông. Cái lão rậm râu này, lúc nẫy thì dũng khí ngất giời, thế mà lúc này sao lại mềm yếu thế. Bờm thấy ngồ ngộ nhưng chẳng nói gì, thỉnh thoảng nhớ đến lại cười một mình. Hôm sau Phú ông kêu trong người nóng nực. Người nhà đem quạt đến quạt cho. Phú ông bảo thứ quạt đó không mát. Hỏi thứ quạt nào mới mát, Phú ông bảo Quạt mo của Bờm. Bờm lấy cái quạt vẫn giắt đằng sau cổ áo ra. Người nhà cầm lấy, quạt cho Phú ông, hỏi:
    -  Mát chưa ?
    Phú ông bảo:
    -  Chưa !
    Lại hỏi:
    -  Tại sao ?
    Phú ông đáp:
    -  Phải Bờm quạt thì mới mát !
    Bờm đón lấy quạt, phe phẩy quạt cho Phú ông. Phú ông mỉm cười, khen:
    -  Bây giờ thì mát thật !
    Được mấy hôm, Phú ông khoẻ lại. Bờm về, tất nhiên là mang theo cả cái vật bất ly thân của mình. Bấy giờ, không hiểu sao, trông bộ mặt phú ông mới thực thểu não. Thấy vậy, Bờm hỏi:
    - Nhà ông làm sao thế ?
    Phú ông lấy giọng thều thào:
    - Ta dùng cái quạt của Bờm quen rồi. Máu ta nhiệt lắm, không có quạt của Bờm có lẽ ta chết yểu mất !
    Bờm trố mắt. Và sau một thoáng do dự, Phú ông nói tiếp, giọng điệu giông giống như kẻ đang có việc phải cầu cạnh:
    - Thế này ... hay Bờm đổi cho ta lấy cái gì đi !
    Bờm thở dài, ngán ngẩm:
    - Giời ạ, tưởng gì, nhà cháu cho luôn ông đấy !
    Phú ông giẫy nẩy:
    - Không được ! Ta thà chết nóng chứ không thể lấy không của Bờm được.
    Bờm có vẻ sốt ruột, cáu kỉnh:
    - Nhà ông dở hơi à ? Đã bảo cho là cho !
    Phú ông lập nghiêm:
    - Cái quạt ấy không phải vật tầm thường. Phú ông ta là bậc cha chú, không thích chơi chạc của hạng con cháu.
    Cái lão này có lẽ dở hơi thật … Mà không chừng, cái quạt của mình cũng có giá thật. Bờm cầm lấy cái quạt ngắm nghía hồi lâu rồi mỉm cười ranh mãnh:
    - Ừ, thì đổi ! Nhưng đã nói đến chuyện đổi chác là phải sòng phẳng luôn đấy. Ông muốn đổi cái gì ?
    - Ba con bò mới chín con trâu ?
    - Nhà ông định lỡm Bờm đấy à ?
    - Đứng đắn đấy !
    Bờm ớ người, nghĩ: Ba voi còn chẳng được bát nước xáo, nữa là ba bò chín trâu
    - Đếch chơi ! Bờm chẳng lấy Trâu.
    - Thế thì ao sâu cá mè nhé ?
    Bờm nghĩ: Lấy ao sâu ... thì có mà cấy lúa vào vạt áo à ? Mà cá thì biết lấy đếch gì ra mà bắt ?
    - Đếch chơi ! Bờm chẳng lấy mè.
    - Thế ... một bè gỗ lim vậy ?
    Bờm nhớ tới câu hát ru cháu của bà cả Hợi ở thôn dưới hôm nào: "Bao giờ rau diếp làm đình, gỗ lim ăn gém thì mình lấy ta". Ái dà ! Giá lão bảo là ba mớ rau diếp !
    - Vẫn đếch chơi ! Bờm chẳng lấy lim.
    - Thế thì con chim đồi mồi ?
    Bờm nhẩm tính: Cũng được đấy. Nhưng thế thì dửng mỡ quá. Đang phải lo ăn bỏ u đi, chơi bời đếch gì !
    - Vẫn đếch chơi ! Bờm chẳng lấy mồi.
    Phú ông lúc này thấy bí. Cau mày suy nghĩ một lúc, rồi bỗng cười tinh quái:
    - Hòn sôi nhá ?
    Bờm nghe thấy thì liền toét miệng ra cười, gật đầu ngã giá.
    - Nhưng gượm đã - Phú ông xoè bàn tay làm hiệu ngăn lại - Ta và Bờm đều là người đứng đắn. Việc mua bán trao đổi giữa những người đứng đắn bao giờ cũng phải lập văn tự. Hơn nữa, cái quạt này không phải vật tầm thường; hòn sôi của ta là ngọc thực, cũng không phải thứ tầm thường. Phải tìm đến chỗ thanh sơn nhã khí, giời đất tươi đẹp mà lập mới được.
    - Chỗ ấy ở đâu ?
    - Hòn Non Nước ! Cách làng mình có một quãng đồng.
    - Đi thì đi. Sợ chó gì thanh sơn nhã khí !
    Sau đó, ông đồ Nguyễn được mời cùng đi làm chứng. Văn tự được lập như sau:
    Ngày…  tháng ... Năm Kiến Thiện thứ sáu.
    Văn tự giao Kèo
    Phú ông có một hòn sôi. Bờm có một cái quạt mo. Hai bên cùng đồng ý đổi ngang cho nhau. Bờm sẽ nhận lấy hòn sôi của phú ông mà tuỳ ý sử dụng. Sôi sẽ được giao dần dần cho đến lúc đủ một hòn thì mới thôi. Phú ông sẽ nhận cái quạt mo của Bờm mà tự ý sử dụng.
    Người nào thất tín sẽ mãi mãi phải chịu mọi phép sai khiến của người kia suốt quãng đời còn lại.
    Giấy này lập tại hòn Non Nước, An Sơn huyện, Sơn Nam xứ, có ông đồ Nguyễn hiện diện thực chứng.
    Lập xong, trước khi điểm chỉ, ông đồ Nguyễn đọc lại cho cả hai cùng nghe. Bờm bật cười, nghĩ thầm: Đúng là cái giống vắt cổ chày ra nước, rán sành ra mỡ; chỉ có vẽn hòn sôi mà không giao được một lần ! Ôi dào, có chó gì đâu, thực ra từ đầu ý mình là muốn cho không lão kia mà !
    Hôm sau, Phú ông sai người đem đến cho Bờm một đĩa sôi. Bờm há hốc mồm:
    -   Chỉ có một hòn thôi mà !
    -  Chỗ này làm sao gọi là một hòn được - Người nhà Phú ông, trỏ vào đĩa sôi thơm phức đang nghi ngút khói, nói - mới chỉ là một phần rất nhỏ của hòn thôi !
    Thật rách chuyện nhà cái lão Phú ông này. Chắc một hòn trông nó chỏng trơ quá, lão ngượng, nên mới bảo người nhà đơm hẳn một đĩa. Biết ngượng thế là được !
    Hôm sau: Lại một đĩa to như hôm trước. Thế là thế quái nào ? Nhưng mà thôi. Nể tình chiến hữu nhận cho lão, không lại lằng nhằng.
    Hôm sau nữa: Lại vẫn như thế. Lần này thì Bờm giật lấy cái đĩa trên tay anh người nhà Phú ông, đùng đùng đem sang nhà Phú ông trả lại.
    -  Nhà ông quá thể ! Nhà ông là hạng nhả nhớt cả với cả hạng con cháu ít tuổi ! Nhà ông không tử tế ! Trả đấy ! Từ rày tạnh hẳn trò này đi nhá ! - Nói, rồi Bờm hầm hầm đi ra.
    -  Gượm đã. Đừng nóng. Ta chỉ thực hiện đúng giao kèo thôi mà. Chẳng qua chỉ là ta không muốn bị nhà Bờm sai khiến suốt đời thôi, chứ ai dại gì mà mất của!
    Bờm không thèm nghe, cứ đùng đùng ra về. Hôm sau đấy, lại vẫn một đĩa sôi thơm phức, bốc khói nghi ngút. Bờm chửi um lên, quyết không nhận. Phú ông đích thân sang tận nhà. Bờm vẫn không thèm nhận. Phú ông doạ sẽ kiện lên quan, cũng không sao lay chuyển được Bờm.
    Phú ông kiện lên quan thật. Lính huyện đem trát của quan xuống đọc cho Bờm nghe và lệnh phải theo lên công đường hầu kiện ngay. Bờm đi mà thấy trong bụng hoang mang quá chừng. Không dưng lại lôi người ta vào những chuyện lằng nhằng. Rốt cuộc là cái trò quái quỷ gì vậy ? Bờm không tự trả lời được. Tại công đường hôm ấy có đủ cả ba người: Phú ông, Bờm và người làm chứng là ông đồ Nguyễn. Phú ông thưa: 
    -  Bẩm quan, trong văn tự có ghi rõ là đổi hòn sôi lấy cái quạt mo. Văn tự cũng ghi rõ được lập tại hòn Non Nước. Sôi là một hòn, Non nước cũng là một hòn. Cùng là hòn thì phải bằng nhau chứ ạ. Vì là bằng nhau nên quả là tiện dân không thể giao hết ngay một lần. Điểm chỉ của Bờm vẫn rành rành còn đây, người làm chứng cũng đang ở đây. Nếu Bờm kia không chịu làm theo văn tự thì xin quan xử theo giao kèo là Bờm phải chịu để cho tiện dân sai khiến suốt đời !
    Quan xử cho Phú ông thắng.
    Quả đúng như vậy thật - Bờm nghĩ - Bị sai khiến suốt đời, mất u nó hết cái tự tiện cuộc đời thì sống làm chó gì cho nó khổ. Nghĩ đi nghĩ lại, cũng chẳng có cách nào hơn. Thôi đành ! Vậy là Bờm phải chấp nhận thực hiện theo cái giao kèo trả dần hòn sôi đó.
    Trên đường từ huyện về làng, Phú ông bảo Bờm:
    -  Không dưng lại giở chứng. Làm ta mất toi mẹ nó mấy quan tiền với nhà quan !
    -  Mặc xác nhà ông ! Bờm đếch biết ! ... Cho đáng kiếp !
     
    *
     
    Cũng bởi chuyện này, về sau, mỗi khi đêm về trăng thanh gió mát, thường nghe con trẻ trong dân gian hát một bài vè:
        Thằng Bờm có cái quạt mo
    Phú ông xin đổi ba bò chín trâu.
        Bờm rằng: Bờm chẳng lấy trâu,
    Phú ông xin đổi ao sâu cá mè.
        Bờm rằng: Bờm chả lấy mè,
    Phú ông xin đổi ba bè gỗ lim.
        Bờm rằng: Bờm chẳng lấy lim,
    Phú ông xin đổi con chim đồi mồi.
        Bờm rằng: Bờm chẳng lấy mồi,
    Phú ông xin đổi hòn xôi Bờm cười.


    2/19/2008

    Ảnh Cưới Truongbt - JT


    Ảnh Cưới....







    2/7/2008

    Tết Mậu Tý - 2008


    CHÚC MỪNG NĂM MỚI - 2008

    Thứ năm   ngày 7 tháng 2 năm 2008
    Ngày 1 tháng 1 năm 2008 (Ngày Đinh Sửu tháng Giáp Dần năm Mậu Tý)




    2/4/2008

    Sau Luỹ Tre Làng 5 - suongtrang


    Đánh 'cầu lông' nơi... xóm trọ!

    Có lẽ đã quen tiếng động cơ xe, nên khi anh Bình vừa đến, cánh cửa mở ra, anh Bình cho xe vào phòng và cánh cửa nhanh chóng đóng lại. “Phi đội” tắt xe máy từ đầu dãy nhà trọ, nhẹ nhàng tiến đến trước cửa “tổ chuồn chuồn”…

    Nhà chị Minh ở gần xóm trọ, chiều hôm đó có chị Hồng, bạn chị đến chơi, chị tiễn bạn ra cổng, vừa lúc đó một người đàn ông mặc bộ đồ thể thao, vai mang bao vợt cầu lông đi xe máy qua, rẽ vào dãy nhà trọ, chỉ vào người đàn ông, chị Minh nói với bạn:

    Chồng cậu có chơi cầu lông không? Cảnh giác đấy, để chồng chơi cầu lông như ông kia thì có ngày mất chồng.

    Chị Hồng nhìn kỹ người đàn ông vừa đi qua và ngạc nhiên nhận ra đó là anh Bình, anh rể chị.

    Tối hôm đó, chị Hồng điện cho chị gái và em trai đến nhà… Từ hôm sau, những lần đi đánh cầu lông của anh Bình đã có người theo dõi.

    Thông thường người ta đánh cầu lông một vài tiếng đồng hồ, còn anh Bình chỉ đánh vài chục phút lấy lệ, rồi đi đánh “sân” khác.

    “Sân” đó là phòng cuối của dãy nhà trọ, chủ nhân là cô Hằng, sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm; phòng khép kín, có đầy đủ tiện nghi cho hai vợ chồng trẻ, còn quá sang đối với một cô sinh viên bố mẹ là nông dân.

    Biết đích thị “tổ chuồn chuồn”, ba chị em bàn tính, hành động thế nào cho nhanh gọn, có hiệu quả và giữ được chồng.

    Hôm đó là cuối chiều thứ Bảy, tuy trời mưa nhưng theo anh Bình, đã hẹn lỡ thi đấu với mấy người bạn, ai thua chiêu đãi… Anh đi được một lúc thì “phi đội ta xuất kích”, anh không ngờ anh đang trong tầm ngắm của “phi đội”. Như dự đoán, anh Bình phóng xe thẳng đến “tổ chuồn chuồn”.

    Có lẽ đã quen tiếng động cơ xe, nên khi anh Bình vừa đến, cánh cửa mở ra, anh Bình cho xe vào phòng và cánh cửa nhanh chóng đóng lại. “Phi đội” tắt xe máy từ đầu dãy nhà trọ, nhẹ nhàng tiến đến trước cửa “tổ chuồn chuồn”, chờ đến khi nghe những tiếng thì thào, tiếng thở gấp… cậu em định đạp tung cửa, “phi đội” xông vào bắt quả tang Bình và Hằng trong tư thế, “hai trong một”…

    Những hình ảnh nóng bỏng của đôi trai gái đã lọt vào màn hình máy điện thoại di động đời mới của cô em gái và lọt vào khuôn hình máy ảnh kỹ thuật số của cậu em trai…

    Trong phòng chỉ đủ nghe tiếng khóc thút thít của Hằng, tiếng xuýt xoa của người vợ, mà không hề có cãi vã, chửi bới, đập phá… Ngay tối hôm đó xóm trọ thấy cô sinh viên xách túi rồi “lối cũ ta về”, còn sáng hôm sau vợ anh Bình thuê xe đến chở những tài sản trong phòng.

    Sau sự kiện đó, mọi người khen vợ anh Bình, một cô giáo trường làng khôn ngoan, xử lý sự việc khôn khéo, hiệu quả, đúng là “Gái ngoan làm quan cho chồng”, nếu không, anh Bình một trưởng phòng có năng lực, uy tín đang diện qui hoạch sẽ bị kỷ luật, mất chức, cả nhà mất nhờ…

    Bị lột trần giữa chợ vì…lăng nhăng

    Xóm Trại nổi tiếng là nơi yên bình, êm ấm nhất huyện T (Vĩnh Phúc). Nay như vỡ òa khi nghe tin chị H bị một người đàn bà lạ mặt lột hết quần áo giữa đường, giữa chợ.

    Lâu nay chị H có tiếng là ngoan hiền, hiếu thảo. Chồng mất sớm, nhưng chị vẫn ở vậy nuôi con nhỏ, bố mẹ chồng nay đã gần chín mươi tuổi. Giờ nghe tin dữ về chuyện chị H trăng hoa bị người ta đánh ghen ngay ngoài chợ nhưng nhiều người vẫn cứ nghĩ đó chỉ là chuyện bông đùa, bịa đặt.

    Cuộc sống quê nghèo vất vả, quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho giời” mà chị H vẫn giữ được vẻ đẹp trời phú. Thanh niên trai tráng ai cũng thèm được rước chị về làm vợ.

    Chị H yêu anh T là người cùng làng. Nên đến tuổi lấy chồng, chị theo anh T về làm vợ. Vốn tính hiền dịu, lại đảm đang nên có khó tính mấy, mẹ anh T cũng không một lời phàn nàn về chị H. Vì thế mái tranh nghèo luôn tràn ngập niềm vui hạnh phúc.

    Thấm thoắt thời gian trôi đi, chị H sinh cho anh T một cậu con trai kháu khỉnh. Là con một, nay vợ sinh được con trai nên anh T vui lắm. Bố mẹ anh cũng vui không kém khi có cháu đích tôn nối dõi. Chị H lại càng được gia đình chồng thêm yêu quý.

    Nhà vốn nghèo, nay có con trai. Anh T quyết tâm lên thành phố làm thêm kiếm tiền nuôi con. Người anh T vốn yếu sẵn, nay lên thành phố lại phải làm toàn việc nặng nhọc nên anh sớm bị lao lực. Không chống đỡ được bao lâu, anh T ra đi khi niềm vui có con trai chưa nguôi.

    Bố mẹ anh và chị H cũng đau lòng khi anh T ra đi lúc còn quá trẻ. Thương con dâu còn trẻ, ông bà cũng có lần động viên chị H đi thêm bước nữa. Để thằng nhỏ lại ông bà sẽ chăm ẵm cho. Nhưng thương con chị không đành.

    Cũng từ lúc anh T mất, nhà chị H lại ngấp nghé người qua lại. Gái một con, vốn lại đẹp từ trước nên trai trong làng, ngoài xã ai cũng muốn được chị yêu.

    Cái đoan trang, đức hạnh của chị H cũng không giữ được bao lâu. Chồng mất, lại tuổi đang xuân…Một buổi trời mưa gió, người đàn ông thường tới “tán tỉnh” chị có dịp ở lại. Trời mưa to, nặng tai, lại kèm nhèm mắt bố mẹ chồng chị H cũng không thể phát hiện được.

    Thế rồi trong phút giây không kiềm chế được, chị H đã ngã vào lòng người đàn ông đó. Rồi “mưa dầm thấm lâu” chị H cũng quen mùi của người đàn ông lạ. Đáp lại, ông ta cũng cho chị thật nhiều tiền để nuôi bố mẹ chồng và con nhỏ.

    Đến hôm chị H đi chợ trên huyện, bị một người đàn bà lạ mặt cùng với hai ả khác lao vào xé toang quần áo chị đang mặc trên người. Có người nhận ra đó là mụ vợ của ông quan huyện cùng hai cô con gái. Họ đã điều tra được chị H là người làm ông quan huyện bỏ bê vợ và con cái nên tìm tới đánh ghen.

    Tin tức nhanh chóng lan rộng khắp cả huyện. Xấu hổ với bố mẹ chồng, với dân làng, mấy ngày sau chị dắt con nhỏ bỏ vào Nam. Để lại bố mẹ chồng cho người em gái chồng chăm sóc. Chỉ tội cho ông bà, nhớ cháu thương con mà mắc bệnh qua đời.


    Chú rể nhầm… vợ

    Khi chị dâu vào phòng bôi vôi vào chân để chữa say cho Thái, cảm giác buồn buồn cùng sự thăng hoa méo mó của rượu, Thái cứ ngỡ chị dâu là tân nương liền ôm choàng lấy, mặc cho người chị dâu kêu gào phản ứng... 

    Nhà ông Quang (làng Chùa) có hai người con trai. Cậu con cả tên Tiến, cậu út tên Thái.

    Tháng trước, Thái đã bị công an xã “mời” lên trụ sở Ủy ban vì tội “ghẹo” gái nhà lành làm mất cả dây chuyền lẫn hoa tai. Mặc dù ông Quang và vợ chồng anh Tiến đã khuyên bảo nhiều nhưng Thái vẫn “ngựa quen đường cũ”.

    Nhưng rồi, ông Quang cũng tìm được cách để “buộc” Thái. Nhờ mai mối tốt nên ông Quang dự tính cưới cho Thái một cô vợ làng bên với suy nghĩ “Có vợ, nó sẽ bỏ được rượu chè mà chí thú làm ăn”.

    Còn Thái cũng tỏ ra “kết” cô gái ấy.

    Đám cưới của họ diễn ra đúng dự kiến. Chú rể trong ngày “đăng quang” mặt đỏ phừng phừng đi chúc rượu từng mâm đến say mềm để mặc cô dâu trong phòng cưới.

    Vì sợ cô dâu buồn khi thấy tân lang say bét nên mọi người dìu Thái về nhà anh trai. Không ngờ, khi chị dâu vào phòng bôi vôi vào chân để chữa say cho Thái, cảm giác buồn buồn cùng sự thăng hoa méo mó của rượu, Thái cứ ngỡ chị dâu là tân nương liền ôm choàng lấy, mặc cho người chị dâu kêu gào phản ứng.

    Nghe tiếng kêu, Tiến và mọi người chạy vào thì “gạo đã nấu thành cơm”. Trong tư thế nửa kín nửa hở, Thái vô cùng ân hận.

    Người tình đánh ghen… người tình

     “Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa”, chị Lan biết được ngoài mình ra anh Nam còn quan hệ với chị Phương nên chị đến tận nhà Phương để đánh ghen. Vụ đánh ghen giữa 2 người tình đã gây xôn xao làng trên xóm dưới.

    Người dân xã Đ (Hải Dương) trong những ngày này xôn xao vì vụ đánh ghen của chị Lan với chị Phương. Không phải đánh ghen vì chị Phương quan hệ với chồng mình, cũng không phải đánh ghen vì chị Phương quan hệ với người nhà mà chị đánh ghen vì người tình. 

    Có lẽ mọi người trong xã Đ chẳng thể biết được quan hệ của chị Lan, chị Phương và anh Nam là như thế nào nếu như chị Lan không đến tận nhà chị Phương để đánh ghen.

    Số là các chị Lan và Phương có chồng đi lao động Hàn Quốc đã được 5 năm, đang trong tuổi xuân lại ở nhà riêng cùng với con nhỏ nên cả hai chị đều rất thiếu thốn tình cảm.

    Anh Nam có vợ đi Đài Loan cũng được gần 7 năm nên chuyện chăn gối không thể nói là đầy đủ. Chính vì vậy mà anh Nam đã tìm đến chị Lan người cùng hoàn cảnh để chia sẻ những thiếu thốn tình cảm. Họ có quan hệ với nhau trong một thời gian dài.

    Còn chị Phương, “cảnh chăn đơn gối chiếc” như vậy cũng không ổn nên chị chủ động tìm đến với anh Nam. Không thể cưỡng lại được nên Nam có quan hệ thường xuyên với cả hai người phụ nữ xa chồng này.

    “Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa”, chị Lan biết được ngoài mình ra anh Nam còn quan hệ với chị Phương nên chị đến tận nhà Phương để đánh ghen. Chị chửi bới, mạt hạ đồng thời đánh chị Phương vì tội quan hệ với anh Nam. Việc chị Lan đánh ghen đã gây xôn xao làng trên xóm dưới nên chính quyền xã không thể đứng ngoài cuộc.

    Công an xã Đ đã lập biên bản và yêu cầu chị Lan phải bồi thường về danh dự cho chị Phương và phạt tiền cảnh cáo vì gây rối an ninh trật tự.

    Sau vụ đánh ghen này người dân xã Đ có chuyện để rì rào bàn tán về quan hệ của ba người. Có lẽ chị Lan là người thiệt thòi nhất vì vừa bị phạt tiền lại vừa bị mọi người gán cho một câu chẳng hay ho gì “đánh ghen vì bồ”. Còn anh Nam từ giờ chắc chẳng còn dám quan hệ với hai người phụ nữ xa chồng này nữa. 

    Mất trăm triệu vì mấy cân đồng nát

    Chỉ vì nghe lời đường mật của những kẻ lừa đảo giả danh thầy bói, bà Năng đã đi vay mượn hơn trăm triệu đồng để "cúng bái" nhằm hốt tiền từ trên trời rơi xuống.

    Sống ở xã miền núi, tuy chỉ làm nông nghiệp nhưng nhờ có ruộng vườn rộng nên kinh tế nhà bà Năng thuộc hàng khá giả. Bỗng một hôm có người đàn ông trung niên ghé vào nhà bà xin nước uống, song dứt khoát không uống nước chè, nước lọc mà nằng nặc xin nước giếng, vì theo ông nước nhà bà Năng có lộc.

    Uống xong mắt ông ta giật giật, rồi nhìn bà Năng bắt đầu phán... Lúc đầu bà Năng còn cười tủm, nhưng càng nghe càng thấy “chí phải” nên bà mời ông thầy vào nhà, ông ta lại phán tiếp rằng đất nhà bà được cổ nhân yểm rất nhiều vàng. Bà Năng nghe vậy trợn tròn mắt, sướng toát cả mồ hôi.

    Khi bà Năng bảo chỉ chỗ thì ông ta lắc đầu mà rằng: “Hiện thời vía gia chủ chưa đứng tuần trăng” nên phải chờ sang tháng tới và phải có “bậc tiền bối” của ông ta mang theo sách Tàu thì mới thấu thị được huyệt vàng. Ông thầy còn dặn bà không được  cho hàng xóm biết làm kinh động đến thổ thần, thổ địa.

    Sang tháng sau, người đàn ông trên đưa “bậc tiền bối” mang theo đồ nghề đến nhà bà Năng. Thầy bảo gia chủ chuẩn bị xôi gà và nhiều tiền mặt đặt lên bàn thờ để làm lễ. Lễ xong chờ đến tối lấy bạt quây ở góc vườn, thầy trực tiếp động thổ còn gia chủ lấy nước giếng đổ vào ngâm...

    Trong buổi đầu tiên ấy các thầy chỉ mò được 1 chiếc nhẫn và 1 sợi dây chuyền. Hai thầy lẩm bẩm với nhau: Do “ngài” chê lễ mọn nên chưa cho đúng huyệt. Sáng hôm sau các thầy về sớm không nhận tiền công, chỉ dặn gia đình chuẩn bị lễ chu đáo, nhất thiết phải có nhiều tiền thật, buộc thành tập “dồn thêm dương khí để ngài thoát âm thăng thiên”.

    Các thầy về rồi, bà Năng đem dây chuyền đi thử và sướng rơn vì đúng là vàng thật. Bà vội vã huy động con cái, rồi chạy khắp nơi vay mượn được ngót nghét trăm triệu đồng để các thầy cúng. Đúng hẹn hai thầy lại lên. Lần này làm lễ vào nửa đêm, và đã mò được cơ man những ngỗng vàng, vòng cổ, hoa tai, trâm cài...v.v...

    Các thầy cho xếp vào một chiếc tráp, tứ phía có hình âm dương, bê đặt lên bàn thờ cạnh chồng tiền làm lễ tạ ơn. Thầy bảo phải tắt hết điện chỉ để một ngọn nến, người nhà tất cả được trùm khăn đỏ phủ phục trước bàn thờ. Khấn xong, thầy mở khăn cho bà Năng và bảo bà xếp hết số tiền gần trăm triệu vào tráp, đoạn các thầy dùng bùa dán kín trừ tà, rồi chỉ anh trai cả chôn xuống chân bàn thờ, dặn đúng 3 tháng 10 ngày mới được mở, nếu sai sẽ phát bệnh mà chết.

    Thầy còn nói thêm, nhớ giữ chiếc tráp cẩn thận trả lại thầy. Công việc xong xuôi cũng vào lúc trời sáng. Vất vả vậy mà các thầy chỉ lấy có chín trăm chín mươi chín ngàn tiền công.

    Thấm thoát đã 3 thàng 10 ngày trôi qua, con cháu bà Năng tập trung đông đủ chuẩn bị chia chác. Nhưng ôi thôi, khi chiếc tráp mở ra số tiền gần trăm triệu biến thành tiền giả, còn những thứ châu báu kia cũng chỉ có thể bán được với giá đồng nát. Cả nhà thất thần, riêng bà Năng thì ngất lên ngất xuống vì tiếc của.

    Sự việc vỡ lở, lúc đó dân làng mới hay biết và ngành chức năng vào cuộc. Nhưng đến gần nửa năm sau, một trong hai tên lừa đảo mới bị bắt. Chắc chắn hắn sẽ bị pháp luật trừng phạt. Chỉ có điều số tiền tráo được bọn chúng đã phung phí hết, nay lại phải ngồi trong nhà đá bóc lịch, chẳng biết đến bao giờ hắn mới có đủ tiền để hoàn trả lại bà Năng. Đây chính là bài học cho những ai nhẹ dạ, tin vào những điều nhảm nhí.


    Mừng thọ hóa đoản thọ

    Cụ Toản ngày ấy tuổi tròn 80. Thời gian này cụ không được khỏe, ăn ít, ngủ kém vì bệnh tim mạch. Trước ngày đó, anh Toán – con trai trưởng cụ có nguyện vọng mừng thọ cho bố nên đã triệu tập các em đến để họp bàn.

    Anh Toán nói: “Bố nay đã 80 tuổi, anh em ta sẽ tổ chức lễ mừng thọ cho bố. Nếu được các em nhất trí ta sẽ tổ chức lễ mừng thọ cho bố thật long trọng. Ta sẽ mời anh em trong họ mạc và bà con xóm giềng đến dự thật đông vui. Sau buổi lễ ta tổ chức tiệc nhẹ – bia, bánh kẹo. Tôi dự kiến số người dự khoảng một trăm người. Xin ý kiến các cô các chú!”.

    Cô út lên tiếng: “Bố đang yếu mệt để lúc bố khỏe hãy mừng thọ thì hay hơn”. Anh Toán gạt phắt: “Không được, ta tổ chức vào đúng ngày sinh của bố mới đẹp, mới thiết thực”.

    Thấy không ai có ý kiến, anh Toán nói tiếp: “Việc tổ chức mừng thọ bố, là con ai cũng có trách nhiệm. Tôi đề xuất mỗi gia đình cô chú góp 100 ngàn còn bao nhiêu vợ chồng tôi xin chịu hết. Được không?” – ý kiến của anh cả được mọi người chấp thuận.

    Hôm mừng thọ cụ Toản trời nắng chang chang. Buổi lễ ở sân được căng phông bạt như một đám cưới. Cụ Toản mặc áo đỏ, mũ đỏ ngồi ở một ghế bành.

    Trưởng ban tổ chức kiêm người dẫn chương trình theo bài bản trình tự đã được xếp đặt giới thiệu từng người vào chúc thọ. Việc này khiến cụ Toản đã mệt lại càng mệt thêm.

    Rồi đúng lúc vị đại diện mặt trận thôn phát biểu thì cụ Toản ngất xỉu. Một người vội bế cụ vào giường, người cởi áo, cởi mũ, người quạt cho cụ. Thấy cụ Toản vẫn bất tỉnh anh con trưởng vội gọi ô tô đưa bố đi cấp cứu.

    Cụ Toản nằm viện được 3 ngày thì mất. Sau đám tang cụ, nhiều người làng cứ rì rầm: “Tại con cháu mừng thọ nên cụ Toản mới đoản thọ”.


    Lợn không sườn, không lòng

    Đám ma ông cụ Tứ vào đúng ngày nóng nực nhưng đã được con cháu, xóm giềng tổ chức một cách long trọng.

    Bà con, chòm xóm và cả những đồng nghiệp các con cháu cụ từ xa lặn lội về viếng càng khiến người làng xuýt xoa, bàn tán về việc cụ tốt phước, các con cháu làm mát mặt cụ nơi suối vàng. Nhưng, buổi sáng đưa cụ ra đồng thì buổi chiều đã thấy các con cụ lời qua tiếng lại, thậm chí to tiếng và mạt sát nhau…

    Ông bà Tứ sinh được 4 gái một trai. Các con gái lấy chồng xa, chỉ có duy nhất cậu út Thạch sống với ông bà. Năm ngoái cụ bà mất cũng vào đợt hè nóng nực và mới làm giỗ đầu cho cụ bà được mấy ngày thì cụ ông đi. Có lẽ vì vậy mà sự thương cảm khi các con không còn cha mẹ càng nặng. Tang gia bối rối cũng chẳng ai muốn bày vẽ làm gì, nhưng cái lệ làng đã định phải có con lợn để cúng, sau đấy làm cơm mời bà con.

    Đến khi gom tiền phúng và tra sổ ghi, cô con gái trưởng sống ở tỉnh tính đi tính lại thì thấy thiếu vài cái phong bì vì lúc người ta đến viếng cô có ngồi nói chuyện với họ. Đến lúc này thì vợ anh Thạch cũng nói số phong bì mình nhận nay cũng bị hụt hơn chục cái. Năm ngoái cũng xảy ra chuyện này, nhưng vì mệt mỏi nên mọi người cho qua. Lần này cô em dâu lại kêu mất, giọng lại có vẻ xẵng càng khiến mọi người nóng ruột. Chẳng ai lấy thì sao lại thiếu?

    Đến phần chi tiêu cho đám ma, cô em dâu tính đã lên đến hơn 5 triệu đồng, nào tiền áo quan, tiền chè, tiền lợn. Sau khi cộng trừ kỹ lưỡng, mọi người thấy tiền phúng vẫn thiếu nên phải bỏ tiền túi ra để đưa cho vợ chồng Thạch, người đã ứng tiền để lo liệu việc này. Điều này khiến ai cũng ức vì phải nộp nhiều.

    Năm ngoái họ đã phải chi những khoản trời ơi như vậy mà năm nay đám ma cũng thế nhưng số tiền lại gấp đôi. Các anh con rể vì bực mình trước kiểu nhập nhằng, với lại không muốn dính vào chuyện bố mới chết mà con đã mất đoàn kết nên bỏ về.

    Tưởng câu chuyện đến đây là xong, nào ngờ lúc này bà chị cả mới khui ra một chuyện. Số là năm ngoái cũng giết lợn, ăn cơm thấy có canh xương nhưng toàn những xương đốt, xương cục mà chẳng thấy miếng sườn nào và cả bộ lòng nữa đi đâu? ở nhà mấy ngày nhưng bữa cơm dọn ra tuyệt nhiên không thấy những thứ “quan trọng” ấy.

    Đám ma bà cụ năm ngoái, chị cũng thắc mắc nhưng vì nhiều việc nên cho qua, nhưng năm nay chị quyết  làm ra chuyện. Khi nghe chuyện mọi người mới ớ ra, nhưng vợ chồng cậu út không nhận. Thế nhưng có ai ngờ ngày giết lợn, bà chị cả đã bí mật cử cậu con theo dõi và biết được bộ lòng, sườn đã ra tới chợ huyện. Hai thứ đó được một người em ruột của mợ Thạch bán giữa chợ.

    Chẳng biết anh em nhà ấy giải quyết vụ việc như thế nào, nhưng người làng biết chuyện đã lắc đầu, phen này anh em nhà họ sẽ còn lục đục mãi nhất là chẳng còn cha, mẹ để hàn gắn. Người làng trách vợ chồng cậu Thạch làm những điều thất đức, gian lận với chính cả anh chị em ruột. Sau chuyện này, mỗi lần nhìn thấy vợ chồng nhà Thạch, người làng đều có ý lảng.


    Ăn cả gốc gạo

    Phải mất cả chục năm mới trồng được cây gạo, nhưng chỉ vì bất đồng với ông Thụ mà ông Lương chặt cây gạo, làm cả làng mất chỗ nghỉ mát.

    Thôn Quýt nhiều người bực mình với ông Lương về chuyện cây gạo đầu làng. Nguyên cây gạo này, ông Lương trồng đã hơn ba chục năm, nay tỏa bóng sum xuê mát rượi, người làng đi làm đồng về ai cũng lấy đó làm chốn dừng chân nghỉ mát.

    Ông Lương thấy bà con tụ tập dưới bóng cây nhà mình bèn nghĩ ra cách mở quán nước bán cho bà con. Lúc đầu chỉ là điếu thuốc, ấm chè về sau ông lại biến gốc gạo thành cái “bách hóa tổng hợp” với đủ thứ hàng hóa tiêu dùng.

    Ngày trước, dừng chân ở gốc gạo làng thoải mái trò chuyện, trao đổi. Nay nhà ông mở quán, ai dừng chân mà không uống cốc nước hay ăn cốc chè thì thấy cũng bất tiện.

    Mà cái sự ăn quà thì ở làng này vốn hay gây ra đồn thổi. Như chị Hằng chẳng hạn, ngày nào dừng chân ở gốc gạo cũng chỉ uống cốc nước chè xanh lấy lệ, vậy rồi cũng đến tai anh Tuấn (chồng chị) rằng chị ăn quà “như mỏ khoét”, mỗi buổi làm đồng liệu được mấy hào mà hôm nào cũng quán xá thì làm gì còn phần chồng phần con.

    Vì những chuyện như thế nên nhiều người “ghét” ông Lương, cho rằng ông là kẻ “móc túi khéo”, lợi dụng địa thế nhà mình có gốc gạo mát để “bắt chẹt” dân làng, nhiều người mạnh miệng còn bảo ông là người “ăn cả gốc gạo”.

    Người “ghét” ông Lương nhiều nhất có lẽ là ông Thụ, nhà ở ngay bên cạnh. Ông Thụ hay chuyện, chiều nào cũng vác điếu cày ra gốc gạo bắt chuyện với hết người này đến người khác.

    Từ dạo ông Lương mở quán bán hàng thì vợ con ông Thụ “cấm cửa” ông đi nói chuyện như trước với lý do “gốc gạo là chỗ buôn bán của hàng xóm”.

    Nhà ông Thụ đông con, việc đồng áng không phải mó tay vào, ông lại hay nghe đài nên biết nhiều chuyện trên trời dưới biển, không nói cứ để trong người cũng khó chịu.

    Chuyện bán hàng nhà ông Lương đang thuận chèo mát mái thì ông Thụ được bà con tín nhiệm bầu làm trưởng thôn. Việc đầu tiên mà ông Thụ đề ra là tìm cách “dẹp” cho bằng được cái quán nước của ông Lương. Nhân buổi họp thôn bàn về việc xây dựng đường làng ngõ xóm xanh - sạch - đẹp, ông Thụ nêu ý kiến:

    - Cây gạo đầu làng, ông Lương có công trồng và chăm sóc nhưng thuộc đất đường làng nên không thể tùy tiện mở quán nước được.

    Ông Lương trình bày là ông mở quán có ủy ban, có cơ quan thuế cho phép, không có việc gì sai trái. Hơn nữa nhà ông không những có công trồng, chăm sóc mà còn luôn dọn dẹp gốc gạo sạch sẽ thì mới có chỗ nghỉ mát như thế nên hưởng chút lộc là lẽ đương nhiên.

    Ông Thụ gạt đi: “Dù sao thì dù, ông cũng không được mở quán nữa. Bằng không thì thôn sẽ chặt cây gạo đi cho thông thoáng đường làng”. Bực mình với ông Thụ, ông Lương lớn tiếng: “Được, ngày mai tôi chặt cây gạo xuống làm củi, xem mọi người lấy đâu ra chỗ mà ngồi... ”

    Nói là làm, hôm sau ông Lương cùng mấy cậu con trai mang cưa ra cưa đứt cây gạo mang về. Ông Thụ cũng không còn chỗ “đắc địa” để kể lể những câu chuyện của mình, còn ông Lương cũng mất chỗ bán hàng. Bà con thôn Quýt thì mất chỗ  nghỉ ngơi mỗi lúc đi làm về. 

    Lúc này, mọi người mới thấy nhớ bát nước chè xanh nhà ông Lương và tiếc cây gạo cũ. Ông Lương cũng vậy, trách dân làng, trách ông Thụ rồi ông cũng phải tự trách mình cả giận mất khôn.

    Trồng được cây gạo tốt mất cả mấy chục năm, chỉ vì một chút nóng giận mà khiến cả thôn ai cũng thấy mất mát. Hai ông đứng nhìn gốc gạo, chép miệng thở dài: Giá mà...


    Hết đường chối cãi

    Chuyện gia đình chị Nhâm hay vứt rác ra đường, trồng rau màu trên đất chung của xóm nhất là việc mở quán bi – a tụ tập nhiều thanh niên đã trở thành đề tài sôi nổi với bà con làng Chùa.

    Chuyện sáng tỏ như ban ngày, dân làng ai cũng biết nhưng vẫn lờ đi vì không thích dây dưa với “cái nhà chị Nhâm chua ngoa, đanh đá”. Hễ có ai động đến chuyện nhà chị là y như rằng chị Nhâm xoa xuýt ngay, rồi kể khổ:

    -Gớm! Các bác cứ quá lời. Chồng em quanh năm làm ăn xa. Một nách em nuôi ba đứa nhỏ, lại không việc làm, em không trồng thêm rau thì ai nuôi con em. Còn ai đến nhà em cũng là vì họ yêu quý mình, chồng em còn chưa nghi ngờ thì các bác đừng đánh tiếng này, tiếng nọ…

    Chuyện cũng chẳng có gì to tát, với lại việc nhà nông quanh năm đầu tắt mặt tối nên chẳng còn ai để ý dạo này nhà chị Nhâm vi phạm điều gì.

    Chỉ riêng ông Thưởng, hàng xóm nhà chị Nhâm là tinh mắt. Bởi lẽ, dạo này cứ xẩm tối, cơm nước chưa xuôi ông đã thấy thằng Tùng – con trai ông nhấp nhổm ra khỏi nhà.

    Ban đầu ông nghĩ thanh niên đến tuổi phải đi tìm hiểu nên cho qua. Sau ông thấy Tùng có nhiều biểu hiện khác lạ như khi ra khỏi nhà hay có thái độ bồn chồn, bối rối như người có tật.

    Sinh nghi, nhiều lần ông theo sau nhưng trời tối, mắt lại kèm nhèm nên chưa ra khỏi cổng, bóng Tùng đã mất hút.

    Hôm nay, chập choạng tối thấy thái độ con có vẻ nóng vội, đoán có chuyện ông giả như không để ý nhưng thực tình quyết bám sát để xem có chuyện gì.

    Cơm nước xong, Tùng chào bố mẹ với lý do đi sinh nhật rồi nhanh chân bước ra khỏi nhà. Ngay lập tức ông Thưởng theo chân luôn. Hóa ra Tùng đến nhà chị Nhâm.

    Thôi rồi, chẳng lẽ chuyện thiên hạ đồn nhà chị Nhâm này, nọ lại liên quan đến thằng Tùng nhà mình sao.

    Máu trong người nóng bừng lên, nhưng ông cố bình tĩnh theo dõi đầu đuôi. Kiễng chân nhòm qua cửa sổ và thấy nhóm thanh niên tụ tập đánh đỏ đen.

    Thảo nào mà thằng Tùng dạo này cứ hay xin tiền bố mẹ hết đi sinh nhật, đám cưới lại đi thăm bạn ốm…. Cái nhà chị Nhâm này thế mà ghê, hết tật này lại đến tật nọ…

    Đã thế ông quyết làm rõ trắng đen cho nhà chị ta hết đường chối cãi. Khéo léo rời khỏi nơi “tập kích”, ông Thưởng nhanh chân đi báo ngay cho công an và chính quyền địa phương. Bắt quả tang tại chỗ, chị Nhâm líu ríu nhận lỗi và ký vào biên bản.

    Chuyện xôn xao cả xóm, đi đến đâu người ta cũng lôi tên chị Nhâm ra mà réo. Trai làng Chùa xưa nay vốn hiền lành, chất phác là thế mà lại bị cái nhà chị Nhâm ham giàu quên tình xóm làng lôi kéo vào chuyện cờ bạc, đỏ đen.

    Chẳng ai quan tâm đến việc ai lập công lớn nhưng ông Thưởng cũng chẳng lấy làm phật lòng. Chỉ có chị Nhâm từ đó hết ghê gớm hẳn, đi đâu cũng chẳng dám ngẩng đầu nhìn ai.


    Ham “ cá”, mất bò

    Đã mấy ngày trôi qua mà không khí trong nhà ông Lê xóm tôi vẫn chưa hết căng thẳng. Vợ chồng ông Lê vốn bình thuận là thế, nay lại ra nông nỗi này, âu cũng do cái tật ham cá độ mà ra cả.

    Bà Lê ngồi trước hiên nhà, rầu rầu nhìn ra đường, nước mắt chảy ngắn chảy dài : “Hu...hu...hu.. tui đã bảo với ông rồi,  xem thì xem chứ đừng có “cá” với độ, mà ông vẫn không chịu nghe, để rồi mất luôn cả con bò đực,  cả gia tài trông vào nó, vậy mà... sao số tôi lại khổ thể này? Hu...hu..hu”.

    Ông Lê đưa chén rượu lên môi, tu cái ực rồi đập mạnh tay xuống bàn, quát lớn: “Bà có im cái miệng đi không? Gan tui đang sôi lên đây này”. Nghe tiếng cãi vã, hàng xóm ai cũng chỉ biết lắc đầu, vợ chồng ông Lê vốn bình thuận là thế, nay lại ra nông nỗi này, âu cũng do cái tật ham cá độ mà ra cả.

    Chả là sau vụ lúa, được mấy ngày rỗi rãi, lại đúng  dịp trên ti vi sắp có trận bán kết Cúp châu Âu, ông Lê háo hức lắm. Ông vốn mê bóng đá, nhưng vì dạo này bận vụ mùa nên ông chẳng xem trận nào cả.

    Nay thì thỏa thích ông hò hét, mà đúng ngày cái đội bóng Chen-xi mà ông rất mê. Hôm diễn ra trận bóng, ông Lê cáo vợ rồi sang nhà ông An đầu ngõ để xem nhờ, tiện thể vừa xem vừa lai rai đôi xị  cho hăng.

    Ngồi chén tạc chén thù, tự dưng ông An đề nghị: “Trận này hay phải biết, hay chúng ta làm cuộc  độ cho thêm máu, chứ xem suông cũng chán, ông Lê nhỉ?”. Nghe cá độ, ông Lê cũng chợn, bởi lẽ ông chẳng có chi đáng giá cả, nên ông  giả đò lờ sang chuyện khác.

    Thấy ông bạn  “đánh trống lảng”, ông An khích bác: “Nếu không có chi thì tui đi ngủ đây, xem chán lắm, ông ngồi xem với mấy đứa nhỏ nghe”. Ông Lê nghe vậy, nổi tự ái, nói lớn: “Ông khinh tui đấy à? Chơi thì chơi chứ sợ gì?”.

    Biết đã đánh trúng điểm yếu của ông Lê, ông An đưa chén rượu lên, khà một tiếng rồi nhẹ nhàng: “Ấy là tui nói vậy, chứ nếu ông không thích thì thôi, tui có ép đâu”.

    Được thêm mấy li rượu tiếp sức, ông Lê mạnh mồm: “Nào, ông thích chơi kiểu gì, hay tôi có ý này, tôi bắt Chen-xi thắng, nếu tôi thua, tôi mất ông con bò, nếu ông thua, ông để tôi lấy cái ti vi này”.

    Nghe ông Lê nói vậy, ông An vỗ đùi cái đét, cười khà khà: “Có thế chứ, nào, chúng ta cạn li”. Lai rai làm cam kết, ông Lê chắc mẩm phen này sẽ được cái ti vi, vốn là niềm mơ ước của ông mấy năm nay, bởi nghe đâu , đội Chen - xi dạo này mạnh lắm, thắng như chẻ tre.

    Thế là ông vừa ngồi xem bóng vừa rung đùi đầy tự tin. Ai dè, chưa đầy 4 phút sau khi bóng lăn, ông Lê và đội Chen xi bị giội một gáo nước lạnh vì bị đối phương sút thủng lưới. Mặt ông Lê bắt đầu biến sắc dần và kết cục như thế nào thì chắc ai cũng rõ. Ông An hoan hỉ dắt con bò về nhà mình. Nhìn theo bóng con bò, ông Lê chỉ biết lắc đầu, thở dài nuốt giận vào trong.