Bùi Tiến's profileTruongbtPhotosBlogListsMore ![]() | Help |
|
2/27/2008 Chuyện Thiền - donTRUONGBT Con Đường Bùn Lầy
Một
hôm Tanzan và Ekido cùng đi trên một con đường lầy lội. Cơn mưa nặng
hạt vẫn còn rơi. Qua một khúc quanh, họ gặp một người thiếu nữ xinh đẹp
trong bộ kimono với đai lưng bằng lụa, ngập ngừng không băng qua đường
được. "Này cô bé," vừa nói xong, tức thì Tanzan bế cô gái sang bên kia đường. Ekido không trò chuyện nữa cho mãi đến đêm khi hai người đến trú ở một ngôi chùa. Không còn chịu được nữa Ekido phàn nàn với Tanzan: "Chúng ta là tăng sĩ, không được đến gần phụ nữ, nhất là con gái trẻ đẹp. Nguy hiểm lắm. Tại sao sư huynh lại phạm giới?" "Ủa, tôi đã để cô gái ở đấy rồi mà," Tanzan nói. "Sư huynh còn mang cô ấy theo ư?" Câu truyện Về Nàng Shunkai
Shunkai
còn có tên khác là Suzu, một giai nhân sắc nước hương trời. Lúc còn trẻ
nàng đã bị ép hôn; không bao lâu sau cuộc hôn nhân đổ vở, nàng theo học
triết ở một trường đại học. Ai nhìn thấy Shunkai cũng đều thầm yêu trộm nhớ. Đã thế, nàng đến đâu cũng gây được cảm tình. Khi không hài lòng với triết học, nàng đến một thiền viện để học thiền, và rồi các thiền sinh lại mê nàng như điếu đổ. Số của Shunkai thật là đào hoa. Sau rốt nàng thực sự trở thành một thiền sinh ở Kyoto. Các sư huynh ở thiền viện Kennin đều ca tụng lòng thành của nàng, và một vị trong số đó kết thân và giúp nàng thấu triệt được thiền. Viện trưởng của thiền viện là Mokurai, Tịnh Sấm, rất là khắc khe. Ngài tự giử giới rất nghiêm và đòi hỏi mọi thiền sinh cũng phải như thế. Nhưng than ôi, trong nước Nhật hiện đại, tăng sinh lại lấy vợ. Mokurai thường phải dùng chổi để xua đuổi phụ nữ ra khỏi các thiền viện của ngài, khi thấy có bóng hồng thấp thoáng. Nhưng khổ thay, đuổi ra bao nhiêu lại vào càng nhiều hơn. Bà vợ của ông trưởng tràng lại bắt đầu ghen tương với Shunkai. Bà càng điên tiết hơn khi nghe các thiền sinh ca ngợi sự liu ngộ thiền của nàng. Sau rốt bà đi phao tin về sự liên hệ giửa Shunkai và người bạn thiền huynh; vì vậy mà hai người bị đuổi ra khỏi thiền viện. "Ta có thể chịu một phần lỗi," Shunkai thầm nghĩ, "nhưng bà vợ của ông trưởng tràng cũng không thể ở lại thiền viện khi bạn của ta bị đối xử bất công như vậy." Đêm ấy Shunkai phóng hỏa đốt rụi thiền viện có từ 500 năm. Hôm sau nàng bị nhà chức trách bắt giử. Một luật sư trẻ chú ý đến nàng và muốn giúp làm cho bản án nhẹ hơn. "Ông không nên giúp tôi," nàng nói. "Bởi vì tôi sẽ gây nên tội khác để lại bị cầm tù." Sau bảy năm bị giam giử, và ngay cả ông cai ngục 60 tuổi cũng mê mệt vì nàng, cuối cùng Shunkai được thả. Nhưng từ đó, chẳng ai muốn gần gủi giúp đở nàng. Ngay cả các thiền sinh, những kẽ vốn tin vào giác ngộ giải thoát trong đời này với thân xác này, cũng xa lánh nàng. Shunkai khám phá ra rằng Thiền là một việc mà kẽ theo thiền lại là một việc khác hẳn. Nàng mắc bệnh và kiệt lực. Nàng gặp một tăng sĩ phái Shinsu, và được dạy niệm danh hiệu Đức Quán Thế- Âm. Nhờ vậy tâm hồn Shunkai được an ủi. Nàng chết khi còn tuyệt đẹp ở tuổi vừa ba mươi. Khi còn đói rách, nàng đã viết lại câu chuyện về đời nàng để kiếm sống. Câu chuyện được lan truyền ở Nhật; rồi những kẻ đã từng xa lánh nàng, đã từng ganh ghét và thóa mạ nàng nay lại đọc chuyện đời nàng trong nước mắt ràng rụa vì hối hận. Đi Đêm
Nhiều
đệ tử theo học thiền với Thiền sư Sengai. Một người trong đám hay thức
dậy nữa đêm, trèo tường trốn khỏi thiền viện để xuống phố du hí. Một đêm kia Sengai đi kiểm soát khu tăng thất, thấy vắng mặt thiền sinh nọ và khám phá ra cái ghế cao mà y hay dùng để trèo tường. Sengai lấy cái ghế đi và đứng thay vào chỗ ấy.Khi kẽ ngao du quay về, chẳng biết đến sự việc, đặt chân lên đầu thầy và nhảy xuống. Khi khám phá ra mọi chuyện, y sững sốt. Sengai bảo: "Khi gần sáng trời thường lạnh lắm. Đừng dể bị cảm." Người đệ tử không bao giờ ra ngoài vào ban đêm nữa. Đường Hầm
Zenkai,
con của một hiệp sĩ đạo, du hành đến Edo và được nhận làm hầu cận của
một quan chức lớn. Y tư tình với bà vợ viên quan và chuyện bị vở lở. Vì
tự vệ, y hạ sát viên quan rồi tẩu thoát với nhân tình. Cả hai về sau trở thành đạo chích. Nhưng người đàn bà tham lam quá độ làm cho Zenkai ghê tởm. Cuối cùng, y đành phải bõ rơi bà ta và trôi nỗi đến một tỉnh xa Buzen, trở nên một tên hành khất lang thang. Để chuộc tội trong quá khứ, Zenkai nguyện làm vài điều thiện trong đời. Biết có một con đường đi qua vực núi rất nguy hiểm đã làm nhiều người chết và bị thương, y quyết tâm đục một đường hầm qua núi. Khất thực ban ngày. Zenkai đào hầm vào ban đêm. Sau ba mươi năm, đường hầm đã được đào dài 2,280 bộ, cao 20 bộ, và rộng 30 bộ. Hai năm trước khi công việc hoàn tất, người con của viên quan bị y giết, nay là tay kiếm cao thủ, tìm ra tông tích Zenkai và tìm đến giết y để trả thù. "Ta sẽ nộp mạng cho ngươi," Zenkai bảo. "Hãy để ta hoàn thành công việc này. Đến ngày đó ngươi có thể giết ta." Người con chờ đợi ngày đó. Vài tháng trôi qua và Zenkai tiếp tục đào. Người con chán ngồi không và góp tay đào giúp. Sau hơn một năm giúp đào, người con thán phục tư cách và ý chí của Zenkai. Cuối cùng, đường hầm đào xong và mọi người qua lại an toàn. "Hãy lấy đầu ta," Zenkai nói. "Việc đã hoàn tất." "Sao con lại có thể cắt đầu của thầy được?" người thanh niên hỏi mà nước mắt đầm đìa. Hãy Tự Mở Kho Báu Của Mình
Daiju tìm đến Thiền sư Baso ở Trung quốc để học đạo. Baso hỏi: "Ông tìm kiếm cái gì?" "Đạo giác ngộ," Daiju trả lời. "Ông đã có sẵn kho báu, tại sao còn phải tìm kiếm bên ngoài?" Baso hỏi. Daiju thắc mắc: "Kho báu của tôi ở đâu?" Baso trả lời: "Cái mà ông vừa hỏi là kho báu của ông đấy." Daiju hốt nhiên thoắt ngộ! Từ đấy về sau ngài thường khuyên bạn bè: "Hãy mở kho báu của mình ra mà dùng." Tìm Thấy Viên Ngọc Trên Đường Bùn Gudo tuy là quốc sư, nhưng ngài vẫn hay du hành như một kẻ khất sĩ lang thang. Một hôm trên đường đi Edo, một trung tâm văn hóa và chính trị quan trọng, ngài đến gần một ngôi làng có tên là Takenaka. Trời đã tối và mưa tầm tả, Gudo ướt mẹp và đôi dép rơm đã tơi tả. Một căn nhà tranh gần làng, ngài thấy có khoảng bốn hay năm đôi dép bày ở cửa sồ và muốn vào hỏi mua một đôi. Người đàn bà thấy ngài ướt lạnh, thương tình mời ngài trú qua đêm. Gudo nhận lời và cám tạ bà ta. Ngài đến trước bàn thờ giữa nhà tụng một thời kinh. Sau đó bà mẹ của bà chủ và bầy con ra chào. Nhìn thấy cả nhà buồn bả, ngài hỏi cớ sự. "Chồng con là kẻ cờ bạc say sưa", người đàn bà kể lể. "Khi ổng ăn bạc thì uống rượu say mèm rồi về nhà đánh đập vợ con. Nếu ổng thua thì đi vay mượn khắp nơi. Lắm khi say quá lại không về nhà. Con phải làm sao?" "Để bần tăng giúp cho," Gudo nói. "Đây có ít tiền, hãy đi mua một chung rượu ngon và ít đồ nhấm. Rồi bà đi nghỉ đi. Bần tăng sẽ tọa thiền trước bàn thờ." Nữa đêm, ông chồng say khướt trở về, la lối om xòm. "Con mẹ nó đâu, tao về nhà đây này. Có cái gì ăn không?" "Có" Gudo nói, "Bần tăng bị mắc mưa và được bà nhà thương tâm cho tạm trú qua đêm. Để đền đáp bần tăng có mua một ít rượu và đồ nhấm dành cho ông dùng." Gã đàn ông hài lòng, uống sạch chung rượu rồi ngã lăn trên sàn mà ngủ. Gudo tọa thiền cạnh bên. Sáng sớm hôm sau, gã đàn ông tỉnh dậy quên hẳn mọi chuyện đêm qua. "Ông là ai? - đâu đến đây?" gã hỏi Gudo khi ngài vẫn còn trầm tư mặc tưởng. "Bần tăng là Gudo từ Đông Kinh đến, trên đường đi Edo," Thiền sư trả lời. Gã đàn ông xấu hổ quá, liền miệng xin lỗi quốc sư. Gudo mĩm cười. "Mọi sự, mọi vật trên đời đều vô thường," ngài giảng giải. "Cuộc đời rất ngắn ngủi. Nếu ông cứ tiếp tục cờ bạc và rượu chè thì ông chẳng làm được việc gì hữu sự, lại còn làm khổ vợ con." Gã đàn ông chợt ngộ, như ra khỏi cơn mê. "Đại sư nói đúng," anh ta dõng dạc. "Làm sao con có thể đền bù cho ngài về lời dạy này! Hay là để con mang hành lý hộ ngài và tin ngài một đoạn đường.ẽ "Nếu ông muốn," Gudo tán đồng. Hai người lên đường. Sau khoảng ba dặm, Gudo bảo y quay về. "Xin được thêm năm dặm nữa," gã nài nỉ. Họ tiếp tục đi. "Giờ ông nên quay về," Gudo khuyên. "Hẳn thêm mười dặm nữa," gã đàn ông xin. "Hãy về ngay," Gudo bảo sau khi đã đi hết mười dặm. "Xin cho con theo Đại sư suốt đời," gã tuyên bố. Những thiền sư hiện đại của Nhật đều là môn đệ của người kế thừa Gudo. Tên của ngài là Mu-nan, người đàn ông đã không bao giờ quay trở lại. Shoun Và Mẹ Shoun đã trở thành một thiền sư của phái Soto. Cha ngài qua đời khi ngài còn là một thiền sinh, để lại một mẹ già ngài phải chăm nom. Mỗi khi đến thiền đường ngài đều đưa mẹ theo. Vì mẹ ngài luôn ở bên cạnh, cho nên khi viếng các tự viện, ngài không thể ngụ cùng chư tăng. Ngài xây một thảo am kế cận để được săn sóc cho mẹ. Ngài thường chép kinh kệ để sinh sống. Khi Shoun mua cá cho mẹ, cả chợ đều mĩa mai, bởi nghĩ rằng ngài phạm giới, nhưng ngài bõ ngoài tai. Tuy vậy, mẹ ngài lại đau lòng khi thấy mọi người đàm tiếu con mình. Sau rốt bà bảo Shoun: "Mẹ nghĩ mẹ có thể trở thành ni cô và ăn chay được." Bà liền thực hành và tu học. Shoun rất thích nhạc và đã từng là bậc thầy về đàn tranh. Mẹ ngài cũng biết chơi đàn tranh. Có nhiều đêm trăng tròn, hai mẹ con thường hòa đàn với nhau. Một đêm có người con gái đi ngang nhà và nghe được tiếng đàn, liền mời ngài đến nhà nàng đánh đàn vào đêm sau. Ngài nhận lời. Vài ngày sau, ngài gặp cô gái ngoài phố và cảm ơn nàng về lòng hiếu khách. Mọi người đều cười chế nhạo vì người thiếu nữ đó là gái giang hồ. Một ngày kia Shoun phải đến thuyết pháp ở một ngôi chùa xa. Vài tháng sau, ngài trở về và được tin mẹ vừa mất. Người quen không biết ngài ở đâu để báo tin, nên tiến hành tang lễ. Shoun bước đến, dùng gậy gõ lên quan tài. "Mẹ ơi, con đã về đây," ngài nói. "Con ạ, mẹ vui lắm khi thấy con trở về," ngài tự trả lời. "Vâng, con cũng vui lắm," Shoun trả lời. Rồi ngài tuyên bố cùng mọi người: "Tang lễ đã xong. Xin chôn cất tử tế." Khi Shoun về già, ngài biết không còn sống được bao lâu, liền gọi môn đồ đến vào một buổi sáng rồi bảo rằng ngài sẽ viên tịch vào buổi trưa. Đốt hương trước di ảnh của mẹ và sư phụ, ngài viết một bài kệ: Ta đã cố sống cho trọn vẹn trong năm mươi sáu năm, Rong ruỗi trên đời. Bây giờ mưa đã tạnh và mây đang tan, Có gương trăng tròn trong bầu trời xanh. Môn đệ của ngài vây quanh tụng kinh, và Shoun ra đi trong tiếng kinh cầu. Tranh Biện Để Được Tạm Trú Các vị tăng khi đi hoằng pháp đó đây, nếu khởi biện và thắng được một cuộc tranh luận về Phật pháp với các vị đang trụ trì? ở một tự viện thì được lưu trú, nhưng nếu thua thì lại xách gói ra đi. Trong một ngôi chùa ở phía bắc nước Nhật, có hai vị tăng sĩ huynh đệ kia cùng tu. Vị sư huynh thì uyên bác, nhưng sư đệ thì dốt nát mà lại chột mắt. Có một vị tăng du hành đến xin tạm trú, đã nhã nhặn thách thức một cuộc tranh luận về giáo pháp thâm diệu. Vị sư huynh hôm ấy đã mỏi mệt vì nghiên cứu kinh sách nên bảo sư đệ thay thế. "Hãy ra tiếp và hãy đối thoại trong tĩnh lặng" Sư huynh căn dặn. Rồi vị sư đệ và người lữ khách cùng đến trước điện Phật và ngồi xuống. Một lát sau, người lữ khách đứng dậy vội vả đến thưa cùng vị sư huynh: "Sư đệ của ngài quả là tuyệt. Ông ấy hạ bần tăng rồi." "Hãy nói lại cho ta nghe chuyện đối thoại," vị sư huynh nói. "À thế này!" người lữ khách kể, "trước tiên bần tăng giơ lên một ngón tay tượng trưng cho Đức Phật, Đấng Giác ngộ. Sư đệ liền giơ lên hai ngón, ám chỉ Đức Phật và giáo pháp của Ngài. Bần tăng giơ lên ba ngón tượng trưng Phật, Pháp và Tăng. Sư đệ liền giơ nắm đấm trước mặt bần tăng, ám chỉ rằng cả ba đều khởi từ nhất thể. Như thế là sư đệ đã thắng và bần tăng không có lý do gì lưu lại đây cả." Nói xong, lữ khách ra đi. "Lão quái tăng ấy đâu rồi?" vị sư đệ chạy vào phòng sư huynh hỏi. "Ta biết rằng đệ đã thắng cuộc tranh luận." "Thắng con khỉ họ. Tôi định nện cho lão ta một trận." "Kể cho ta nghe chuyện gì đã xảy ra nào," sư huynh bảo. "Thế nào ư! vừa gặp tôi là lão giơ một ngón tay lên, ý muốn sĩ nhục tôi bằng cách ám chỉ tôi chột mắt. Nễ lão là khách nên tôi ráng lịch sự, rồi thì lảo giơ lên hai ngón, ý mừng rằng lão có hai con mắt. Kế đến tên mắc dịch đó lại giơ lên ba ngón, muốn nói rằng giữa hai người chỉ có ba con mắt. Tôi cáu quá định đấm cho lảo một quả nhưng lảo lại chạy mất và chuyện chỉ có vậy!" Sứ Quân Ngu Đần Hai vị thiền sư tên là Daigu và Gudo được một sứ quân cho mời đến. Vừa gặp, Gudo bảo với sứ quân: "Ngài có bản chất thông minh và một khả năng bẩm sinh học được Thiền." "Nói nhảm," Daigu nói. "Tại sao ngài lại tâng bốc kẻ ngu đần này? Y có thể là một sứ quân, nhưng lại không hiểu tí gì về Thiền." Sau đó thay vì xây một ngôi chùa cho Gudo, vị sứ quân lại xây cho Daigu và theo học thiền với ngài. Trà Sư Và Kẻ Thích Khách Taiko, một tướng quân sống ở Nhật trước thời Tokugawa, học môn Cha-no-yu, trà đạo, với Sen no Rikyu, một vị thầy về biểu hiện vẽ đẹp của tĩnh lặng và tự tại. Viên phó tướng của Taiko tên là Kato lại cho rằng sự đam mê về trà đạo của cấp trên làm sao lãng việc nước, nên y quyết đi giết Sen no Rikyu. Y dàn xếp như là một cuộc thăm viếng xã giao và được mời đến dùng trà. Trà sư, rất tinh ý cho nên mới nhìn qua đã biết được ý định của viên võ tướng. Ngài yêu cầu Kato gởi kiếm ở bên ngoài trước khi vào phòng lễ, giải thích rằng Cha-no-yu là biểu tượng cho an lạc. Kato chẳng nghe lời. "Ta là võ tướng," y bảo. "Gươm luôn luôn ở cạnh ta. Cha-no-yu hay không Cha-no-yu, ta vẫn phải mang gươm." "Vậy thì, hãy cứ mang gươm của ngài vào dùng trà," Sen no Rikyu thỏa thuận. Ấm đang sôi trên lò than. Chợt Sen no Rikyu làm nó ngả. Hơi nóng réo lên cùng với khói và tro bao trùm khắp phòng. Viên võ tướng giật mình chạy ra ngòai. Trà sư xin lỗi. "Do tôi vụng về. Xin trở vào dùng trà. Gươm của ngài lỡ bị tro phủ và tôi sẽ cho lau chùi sạch sẽ trước khi giao lại cho ngài." Trong tình huống như vậy viên võ tướng hiểu rằng y không thể giết được trà sư, nên bỏ hẳn ý định. Vật Quý Nhất Trên Đời Một đệ tử đã hỏi Sozan, một thiền sư Trung quốc: "Vật gì quý nhất trên đời?" Thiền sư trả lời: "Cái đầu của con mèo chết." "Tại sao cái đầu của con mèo chết lại là vật quý nhất trên đời?", thiền sinh thắc mắc. Sozan trả lời: "Bởi vì không ai có thể trả giá được. Thư Cho Người Sắp Chết Bassui viết bức thư sau cho một trong những đệ tử của ngài sắp viên tịch: "Chân tâm của con không hề được sinh, nên nó không bao giờ diệt. Nó không phải là một hiện thực, dễ bị hũy hoại. Nó không hẳn là hư không, như một khoảng trống. Nó không sắc không tướng. Nó không thọ vui hay cam khổ. Ta biết rằng con đang bị bệnh nặng. Như một thiền sinh giỏi, con hãy quán chiếu đến chứng bệnh đó. Con có thể không hiểu ai đang đau khổ, mà tự hỏi mình: Cái gì là chân tâm? Chỉ quán tưởng đến điều này. Con chẳng cần gì khác. Chẳng ham muốn điều chi. Phút cuối của con xem như vô hạn chỉ giống như một mảnh tuyết tan trong tịnh độ. Học Im Lặng
Đệ
tử phái Tendai thường tập quán tưởng trước khi Thiền được du nhập vào
Nhật. Có bốn tăng sinh kết bạn và quyết giữ thanh tịnh trong bảy ngày. Ngày đầu cả bốn đều im lặng. Việc trầm tư mặc tưởng của họ khởi đầu tốt đẹp, nhưng khi đêm xuống và ngọn đèn dầu tàn dần thì một vị buộc miệng gọi kẻ hầu: "Rót thêm dầu." Tăng sinh thứ nhì ngạc nhiên khi nghe người thứ nhất lên tiếng. "Chúng ta không nên nói lời nào mới phải," ông phê bình. "Cả hai vị ngu quá. Tại sao lại nói chuyện?" người thứ ba hỏi. "Chỉ có tôi là không nói tiếng nào," tăng sinh thứ tư kết luận. 2/22/2008 Chuyện Thiền - Phong Kiến Đại Sư (Truongbt)Ba Hạng Đệ Tử
Thiền sư Gettan, sống vào cuối triều đại Tokugawa. Ngài thường bảo: "Có ba hạng đệ tử : Một hạng hoằng hóa giáo lý, một hạng tu tập chùa, và một hạng giá áo túi cơm. Ba Ngày NữaGasan cũng nói như thế. Khi ngài còn tu học với vị thầy rất khắc khe là Tekisui; đôi khi còn bị thầy nện cho mấy gậy. Nhiều thiền sinh khác không chịu nỗi đã phải bỏ đi. Gasan ở lại, nói: "Một đệ tử xoàng thì dựa oai thầy. Một đệ tử khá thì ngưỡng mộ từ tâm của thầy. Môt đệ tử giỏi thì trở nên vững chải hơn dưới kỷ luật của thầy."
Suiwo,
đệ tử của Hakuin, là một thiền sư giỏi. Trong thời an cư kiết hạ, một
đệ tử từ một đảo phương nam nước Nhật đến gặp thầy. Suiwo trao cho một
công án: "Nghe tiếng vỗ của một bàn tay." Bắt Giam Tượng PhậtNgười đệ tử đã trải qua ba năm mà vẫn chưa ngộ được. Một đêm nọ, ông ta đến gặp Suiwo nước mắt đầm đìa. "Con đành chịu xấu hổ trở về quê thôi," ông ta bảo, "vì con chẳng giải được vấn nạn." "Hãy đợi thêm một tuần nữa đi và ráng chú tâm thiền định." Suiwo khuyên. Người thiền sinh vẫn chẳng liu ngộ được. "Ráng thêm một tuần nữa," Suiwo bảo. Người đệ tử vâng lời nhưng vẫn vô ích. "Thêm một tuần nữa." Lại vô hiệu. Chán nãn quá, người thiền sinh xin được về quê, nhưng Suiwo yêu cầu thiền quán thêm năm ngày nữa. Chẳng đi đến đâu. Rồi ngài phán: "Thiền thêm ba ngày nữa, nếu ngươi không ngộ được thì hãy tự tử đi." Đến ngày thứ hai, vị thiền sinh hốt nhiên thoắt ngộ. Bạn Thật Sự
Thuở xưa ở Trung Hoa có hai người bạn, một người đàn rất tuyệt và một người nghe rất tinh. Khi người đàn về cao sơn thì người nghe bảo: "Tôi có thể nhìn thấy núi thẳm ở trước mặt." Khi người đàn về lưu thủy, người nghe reo: "Đây là giòng nước chảy!" Nhưng rồi người nghe mắc bệnh lìa trần. Người bạn kia cắt đứt dây đàn và không bao giờ đàn nữa. Từ bấy giờ, việc cắt đứt dây đàn ý tõ tình bạn thắm thiết.
Một
anh lái buôn vác trên vai năm mươi cuộn bông dừng nghỉ trong một trạm
dưới chân một tượng Phật bằng đá để tránh hơi nóng. Y buồn ngủ và chợp
mắt, khi thức dậy thì hàng hóa biến mất. Y liền đi trình báo với nhà
cầm quyền. Vị quan tòa tên là O- Oka mở cuộc điều tra. "TượngPhật đó chắc đã đánh căp món hàng," quan tòa kết luận. "Lẽ ra ông ta phải chăm sóc cho sự an lành của dân lại không làm tròn phận sự cao cả. Bắt giam tượng ngaỵ" Quan chức liền bắt giam tượng Phật và khiêng vào giửa tòa án. Một đám đông ồn ào kéo theo sau tượng Phật, tò mò muốn biết quan tòa xử hình phạt gì đây. Khi O- Oka đăng đường, ông liền trách mắng đám đông. "Các vị dám cả gan đến tòa cười cợt chế riu? Các vị mang tội khinh mạng tòa án nên phải bị phạt tiền và tù." Đám đông vội vả xin lỗi. "Ta sẽ giử nguyên phạt vạ," quan tòa phán, "nhưng ta sẽ khoan hồng nếu mỗi người mang đến tòa một cuộn bông trong kỳ hạn ba ngày. Ai không y lệnh sẽ bị bõ tù." Một trong những cuộn bông mang đến liền được anh lái buôn nhận ra là của mình, do đó tên trộm bị lộ diện. Anh lái buôn thu hồi số hàng bị mất và mọi cuộn bông được trả lại cho dân. Câu Trả Lời Của Người Chết
Khi
Mamiya, về sau trở thành một giảng sư đại tài, đến một thiền sư để được
chỉ giáo, liền được cho một công án về tiếng vỗ của một bàn tay. Mamiya chú tâm quán chíếu đến đề thọai đầu này. "Ngươi vẫn chưa cố gắng lắm," vị thiền sư bảo với ngài. "Ngươi vẫn còn quá vướùng mắc đến thức ăn, tài, vật và cái tiếng động đó. Tốt hơn nếu ngươi chết đi thì mới giải quyết được vấn nạn." Lần sau Mamiya đến bái kiếân thầy thì lại được hỏi đã được gì để chỉ tiếng động của một bàn tay. Tức thì Mamiya ngã lăn ra như thể đã chết rồi. "Thôi được, ngươi đã chết," thiền sư quan sát. "Thế nhưng cái tiếng động thì thế nào?" "Con chưa giải nó được," Mamiya ngước nhìn lên trả lời. "Người chết không nói được," thiền sư bảo. "Cút ngay!" Chế Ngự Con Ma
Một
người vợ trẻ bị bệnh và sắp chết. "Em yêu anh lắm," nàng nói với chồng,
"Em không muốn xa anh. Anh đừng nên yêu ai nữa nhé. Nếu anh không nghe
lời, em sẽ trở về làm ma hành hạ anh không thôi." Kẻ Cướp Trở Thành Môn ĐồChẳng mấy chốc người vợ qua đời. Người chồng giữ đúng lời vợ trối trăn được ba tháng đầu, nhưng rồi y gặp và yêu một người đàn bà khác. Họ hứa hôn với nhau.Ngay sau l hứa hôn một con ma hiện ra mỗi đêm trước người đàn ông trách rằng y không giữ đúng lời hứa. Con ma còn rất linh. Nó nói đúng phóc những gì liên quan đến y và tình nhân mới. Khi y tặng cho hôn thê món gì, con ma tả ra với chi tiết. Nó còn lập lại cả những cuộc đối thoại, bực mình đến nỗi y không thể ngủ được. Có người khuyên y nên giải bày với một thiền sư sống gần làng. Mãi lâu, thất vọng quá người đàn ông khổ sở tìm đến thiền sư xin gúp đở. "Vợ của ông trở thành con ma và biết được tất cả việc ông làm," vị thiền sư nhận xét. "Bất cứ điều gì ông làm hay nói, bất cứ món gì ông tặng nhân tình nó cũng biết. Nó phải là một con ma khôn ngoan. Đúng ra ông nên cảm phục một con ma như thế mới phải. Lần sau nếu nó hiện ra ông nên thương lượng với nó. Nói với nó rằng nó biết nhiều quá và không có điều gì ông có thể dấu nó, và rằng nếu nó trả lời được một câu hỏi của ông, ông hứa sẽ bải bõ hôn ước và ở giá suốt đời." "Câu hỏi gì để con phải hỏi nó?" người đàn ông thắc mắc. Thiền sư trả lời: "Vơ một nắm đầy hạt đậu và hỏi nó có bao nhiêu hạt trong tay ông. Nếu nó không trả lời được thì nó chỉ là điều giả tạo trong trí tưởng của ông và nó sẽ không quấy ông nữa đâu." Đêm sau con ma hiện ra, người đàn ông ca tụng nó và bảo rằng nó biết hết mọi chuyện. "Dĩ nhiên," con ma trả lời, "và ta biết ông đến thăm ông thiền sư bửa nay nữa." "Và quả là ngươi biết quá nhiều," người đàn ông yêu cầu, "hãy nói cho ta biết có mấy hạt đậu trong nắm tay này của ta!" Không còn có con ma nào để trả lời câu hỏi.
Vào một đêm trong khi Shichiri Kojun đang tụng kinh thì một tên cướp xông vào với lưởi dao bén đòi tiền hoặc giết ngài. Không Có Lòng NhânShichiri bảo: "Xin đừng náo động. Ông có thể lấy tiền trong ngăn kéo kia", và tiếp tục tụng kinh. Giây lát sau, ngài kêu lên: "Xin đừng lấy hết tất cả. Ta cần một ít để đóng thuế ngày mai." Kẽ đạo chích gom góp gần hết và sắp sửa chuồn. "Hãy biết cảm ơn thí chủ chứ," Shichiri nói thêm. Tên cướp nói lời cảm ơn và biến mất. Vài ngày sau tên cướp bị bắt và thú tất cả mọi tội, trong đó có chuyện liên quan đến Shichiri. Khi Shichiri được vời đến để đối chứng, ngài bảo: "Ông này không phải là kẽ cướp, ít ra là phần có liên quan đến bần tăng. Bần tăng biếu ông ấy một ít tiền và ông ta có tỏ lời cảm ơn." Sau thời gian ngồi tù, người đàn ông kia tìm đến Shichiri và trở thành đệ tử của ngài.
Trung
hoa, có một bà lão đã tận tình săn sóc cho một vị tăng hơn hai mươi
năm. Bà đã xây một thảo am và lo cơm nước cho ông ta để chuyên tọa
thiền. Đến một hôm bà muốn thử xem ông đã tu hành đến đâu. Bà đi tìm
được một cô gái xuân tình phơi phới. "Đến ôm ổng," bà bảo cô gái, "rồi
hỏi ổng: Bây giờ làm trò gì nữa? " Cô gái liền tìm đến vị tăng và chẳng bõ mất thì giờ nhào vào ôm và vuốt ve ông ta, rồi hỏi ông ta làm gì tiếp. "Một cổ thụ mọc trên đá lạnh vào mùa đông," vị tăng trả lời một cách văn hoa. "Còn đâu lửa lòng." Cô gái trở về thuật lại tự sự. "Cứ nghĩ ta đã nuôi y hơn hai mươi năm!" Bà già kêu lên giận dữ, "Y đã không màng đến nhu cầu của cô, y đã không rũ lòng giải thích cho cô. Y không cần phải đáp ứng dục tình, nhưng ít ra cũng phải có chút lòng thương." Nói liền, bà đến đốt rụi thảo am. Mỗi Phút Đều Là Thiền
Mỗi
thiền sinh phải sống cạnh thầy ít ra cũng phải mười năm trước khi thu
dạy kẻ khác. Tenno, vừa trải qua thời kỳ học tập và nay trở thành thiền
sư, đến thăm Nan-in. Hôm ấy trời mưa, nên Tenno mang guốc và cặp một
cái dù. Sau khi chào hỏi, Nan-in lên tiếng: "Có lẽ ông đã để guốc trước
tiền đường. Ta muốn biết chiếc dù của ông nằm bên phải hay bên trái của
đôi guốc." Tenno bối rối không đáp lại ngay được. Ông ta hiểu ra rằng mình chưa sống thiền trong từng phút. Ông ta trở thành đồ đệ của Nan-in, và học trong sáu năm nữa để đạt đến mức thiền trong từng phút. Hối Cải Thực Sự
Ryokan
hiến mình vào việc tu học Thiền. Một hôm ngài nghe nói đến chuyện người
cháu phung phí tiền của cho một đào nương, mặc cho sự nguyền rủa của bà
con quyến thuộc. Vã lại y là người thay thế Ryokan trong việc cai quản
tài sản của gia đình, mà gia sản xem ra có cơ tan biến, cho nên thân
nhân mới đến nhờ ngài ra tay. Ryokan phải du hành một đoạn đường xa để gặp người cháu mà ngài cách xa đã nhiều năm. Người cháu vui mừng gặp lại người chú và mời ở lại qua đêm. Cả đêm Ryokan ngồi tham thiền. Đến sáng, gần lúc ra đi ngài bảo người trẻ tuổi: "Ta đã già, tay run. Cháu có thể giúp ta cột dây chiếc dép rơm được không?" Người cháu hăng hái giúp liền. "Cảm ơn cháu," Ryokan kết thúc, "cháu thấy không, một người trở nên già và yếu mỗi ngày. Hãy bảo trọng lấy thân." Xong Ryokan ra đi, không hề nhắc một lời nào đến cô đào nương hoặc lời quở trách của thân nhân. Nhưng kể từ sáng hôm ấy, tính hoang phí của người cháu chấm dứt. Ngụ Ngôn
Trong
Kinh, Đức Phật có dạy một câu chuyện ngụ ngôn như sau: Một người đi qua
một cánh đồng và gặp một con hổ. Anh ta bõ chạy, con hổ đuổi theo. Đến
một bờ vực sâu, anh chụp được một sợi dây leo và đu lững lơ gần bờ vực.
Bên trên con hổ đang cúi xuống đánh hơi. Run sợ cuống cuồng, anh nhìn
xuống đáy vực sâu lại thấy một con hổ khác đang nhe răng nhìn lên. Một Nụ Cười Trong ĐờiBỗng lại xuất hiện hai con chuột, một trắng một đen đang gậm nhấm sợi dây leo. Chợt anh thấy một quả dâu chín mọng bên cạnh. Một tay nắm chặt dây, tay kia nhặt quả dâu bỏ vào miệng. Chao ôi sao nó ngọt thế!
Suốt
đời Mokugen, chưa ai thấy ngài cười cho đến khi sắp chết. Vào ngày cuối
ngài bảo với các đệ tử trung thành: "Các con học với ta hơn mười năm
nay. Giờ hãy cho ta thấy lối liễu ngộ thiền của các con như thế nào. Ai
biểu lộ rõ nhất sẽ được truyền y bát và kế tục ta." Mọi người đều chăm chú vào gương mặt nghiêm trọng của Mokugen mà không ai trả lời. Encho, một đệ tử theo thầy đã lâu, bước đến cạnh giường. Ông đẩy chén thuốc tới vài phân. Đó là câu trả lời của ông khi được hỏi đến. Nét mặt thầy càng thêm nghiêm trọng. "Con chỉ hiểu có vậy thôi ư?" Mokugen hỏi. Encho lại đưa tay ra kéo lui chén thuốc. Một nụ cười thật tươi lộ trên mặt Mokugen. "Thằng nhãi," ngài nói với Encho. "Con đã theo ta mười năm mà chưa hề thấy toàn thân của ta. Hãy cầm lấy y bát. Chúng thuộc về con." Phật Mũi Đen Một ni cô mong cầu giác ngộ, tạc một tượng Phật giát vàng. Đi đâu cô cũng mang tượng Phật theo. Mấy năm trôi qua, và vẫn mang theo tượng Phật, ni cô đến trú tại một tiểu tự viện vùng quê, ở đấy có rất nhiều tượng Phật với bàn thờ riêng cho mỗi tượng. Ni cô muốn đốt hương cho riêng tượng Phật vàng của mình. Không muốn khói hương bay lan sang các tượng khác, cô mới chế ra một cái phểu để nhờ đó hương đốt chỉ bay lên đến tượng của mình mà thôi. Vì thế mà cái mũi tượng Phật vàng của cô bị nám đen rất xấu xí, kỳ dị. Tâm Đá Hogen, một Thiền sư Trung hoa, sống ở một ngôi chùa nhỏ trong làng. Một ngày kia có bốn nhà sư du hành xuất hiện và hỏi nếu họ có thể nhóm lửa ở trước sân để sưởi ấm. Trong khi nhóm lửa, Hogen nghe bọn họ bàn luận đến chủ quan và khách quan. Ngài tham gia vào và nói: "Có một tảng đá lớn. Quý vị xem nó ở trong hay ở ngoài tâm của quý vị?" Một vị tăng trả lời: "Theo Phật pháp thì mọi sự vật đều là biến thái của tâm, tôi có thể bảo rằng tảng đá ở trong tâm tôi." "Vậy thì đầu của ngài phải nặng lắm," Hogen quan sát, "nếu ngài phải mang mãi tảng đá như thế trong tâm." Tiếng Vỗ Của Một Bàn Tay Mokurai là thiền sư của chùa Kennin, biệt danh là Tịnh Sấm. Ngài có một đệ tử được gởi gấm tên là Toyo, chỉ mới có mười hai tuổi. Mỗi buổi sáng và mỗi buổi tối Toyo thấy các đệ tử lớn tuổi hơn thường đến viếng sư phụ mong được chân truyền thiền học và chỉ dạy công án để định tâm. Toyo cũng ước được tọa thiền. "Hãy ráng chờ thêm nữa," Mokurai bảo. "Con hãy còn bé lắm." Nhưng đứa trẻ cứ nài nĩ mãi nên sư phụ cũng chiều lòng. Một buổi tối Toyo đến bên ngoài cửa phòng của sư phụ đúng giờ. Cậu đánh chiêng báo hiệu, đãnh lễ ba lần ngoài cửa rồi đến ngồi trước mặt sư phụ trong sự yên lặng kính cẩn. "Con đã nghe tiếng vỗ của hai bàn tay," Mokurai bảo. "Bây giờ chỉ cho ta tiếng vỗ của một bàn taỵ" Toyo cúi lạy và lui về phòng mình mà quán chiếu đến công án này. Từ cửa phòng cậu ta có thể nghe văng vẳng tiếng nhạc của các cô đầu geisha. "Ồ! có rồi!" cậu reo lên. Đêm hôm sau, khi sư phụ bảo cậu diễn tả tiếng vỗ của một bàn tay, Toyo bắt đầu đàn bài nhạc của các cô đầu. "Không, không, thiền sư Mokurai bảo. "Chẳng phải thế đâu. Đó không phải là tiếng vỗ của một bàn tay. Con chẳng hiểu gì cả." Cho rằng tiếng nhạc văng vẳng quấy rầy quá, Toyo bèn tìm một căn phòng vắng lặng hơn. Cậu ta nghĩ miên man. "Thế nào là tiếng vỗ của một bàn tay?" Cậu chợt nghe có tiếng nước rơi. "Ta được rồi," cậu tưởng. Khi cậu gặp lại sư phụ, Toyo bắt chước tiếng nước rơi. "Cái gì vậy? thiền sư Mokurai hỏi. "Đó là tiếng giọt nước rơi, nhưng không phải là tiếng vỗ của một bàn tay. Ráng nữa đi."Thất vọng, Toyo mặc tưởng đến tiếng vỗ của một bàn tay. Cậu nghe tiếng gió thỏang. Nhưng lại bị gạt đi. Cậu nghe tiếng cú kêu. Lại cũng bị từ chối. Tiếng vỗ của một bàn tay lại không phải là của bầy châu chấu. Toyo đến và đi cũng phải mười bận viếng Thầy với nhiều tiếng động khác nhau. Tất cả đều sai bét. Cả một năm cậu cứ suy nghĩ về tiếng vỗ của một bàn tay là thế nào. Cuối cùng, cậu bé Toyo đi vào thiền định và quán chiếu tất cả các tiếng động. "Con chẳng còn biết thêm tiếng động nào khác nữa," cậu giải thích về sau này, "do đó con đạt đến tiếng động vô thanh." Toyo đã ngộ được tiếng vỗ của một bàn tay. Em bé và ông lão bán bóngThằng bé lạ hoắc. Chắc nó là đứa bé ăn mày, mới ở đâu tìm tới để xin ăn. Gương mặt thằng bé đườm đượm buồn, nhưng đôi mắt lại ánh lên niềm khát khao thèm muốn. Không hiểu sao ông lão lại cảm thấy thương thương thằng bé. Ông lão bán bong bóng trước cổng Trung tâm triển lãm đã lâu lắm rồi. Phải tới gần năm năm trời chứ không ít. Mỗi ngày, cứ vào lúc chạng vạng, ông lão lại chạy chiếc mô bi lét tới, cắm vào chiếc xe một cây cọc bằng tầm vông có rất nhiều cành nhánh vót bằng những thanh tre; trên các cành nhánh ấy, ông thổi và treo những chiếc bong bóng hình các con thú đủ sắc màu, trông rất vui mắt. Các cặp vợ chồng trẻ chở con đi chơi thường ghé mua cho con những con thú bong bóng ấy. Hai ngàn, ba ngàn, năm ngàn… đắt nhất cũng chỉ mười lăm ngàn. Món quà tuy rẻ tiền, nhưng trẻ con bao giờ cũng mừng húm. Chúng cầm lấy thanh tre vót nhẵn, quơ quơ con thú sặc sỡ sắc màu mà chúng đã chọn; mắt ngời lên lóng lánh niềm vui, miệng nở nụ cười thích thú. Cả cha mẹ chúng cũng tỏ ra vui mừng hớn hở; họ cám ơn ông lão kèm theo lời hẹn sẽ có dịp trở lại. Ông lão cũng vui. Một tay cầm mấy ngàn bạc, một tay xoa đầu đứa bé, ông lão hồn hậu nói với nó: “Lỡ con làm nó bị lủng, bị xì hơi, con đem đến ông dán lại, ông thổi lại cho. Biết giữ, con thỏ ngọc này sống được hàng năm trời đấy”. Từ hai tuần nay, Trung tâm triển lãm rộn rịp hẳn lên bởi không khí Tết. Bên ngoài dày đặc các xe bán cà rem, bán bánh, bán nước ngọt, nước mía, bán khô mực, bán cóc, bán ổi ngâm đường. Xa chút nữa là các dãy bán hoa, bán kiểng, bán chim và bán đủ thứ hàng họ thường bày bán vào các dịp Tết. Bên trong, hội chợ ngồn ngộn hàng hóa, vô khối các trò chơi hấp dẫn; lại cả sân khấu ca nhạc ngoài trời, rạp mô tô bay, rạp diễn trò ảo thuật… Người các nơi đổ về nghìn nghịt. Đông nhất là trẻ con. Ông lão bán không nghỉ tay. Hết đứa này tới đứa khác, chúng hết chọn con thú này lại xin đổi con thú khác; ông lão phải đứng liên tục hàng giờ, bơm bong bóng liên tục hàng giờ. Hai chân mỏi nhừ. Nhất là cái chân trái bị cụt của ông. Vào một đêm đang bị quây chặt giữa những đứa trẻ mập mạp, hồng hào, ông lão thốt có cảm giác có ai đó đang nhìn mình. Thì ra có một đứa bé thật. Nó là một đứa bé trai, chừng sáu tuổi, đầu tóc cắt cụt ngủn. Đứa bé vận quần xà lỏn, chân đi một đôi dép mủ cáu bẩn; trên người mặc một tấm áo rộng thùng của người lớn mà nó phải buộc túm hai chéo áo lại cho vừa với tầm thước của nó. Thằng bé lạ hoắc. Chắc nó là đứa bé ăn mày, mới ở đâu tìm tới để xin ăn. Gương mặt thằng bé đườm đượm buồn, nhưng đôi mắt lại ánh lên niềm khát khao thèm muốn. Không hiểu sao ông lão lại cảm thấy thương thương thằng bé. - Con muốn mua bong bóng phải không? Con ngựa vằn hay con đại bàng? Thằng bé nghe ông lão hỏi thì len lén lủi đi mất. Tội nghiệp. Nó làm gì có tiền mà mua. Thuở cơ hàn, ông lão cũng từng phải ngược xuôi đi làm thuê làm mướn. Lặn lội tứ xứ, cuối cùng ông lão mới lạc về đây vác cá mướn đêm đêm ngoài chợ cá. Một lần cõng cả một cần xé lớn cá bạc má từ dưới ghe lên, đêm hôm khuya khoắt, trời lại lắc rắc mưa, cầu trơn làm ông lão bị trượt chân, té gãy ống quyển. Do không đủ tiền chạy thầy chạy thuốc, chân trái ông lão bị tháo khớp tới đầu gối. Khi khỏe mạnh trở lại, phải gom góp mấy năm trời ông lão mới sắm được cái chân giả. Cái chân giả bằng nhựa ấy, theo ông mãi cho tới tận bây giờ; nhựa đã ngã màu nâu xin xỉn. Đêm ấy, khi dọn dẹp chuẩn bị ra về, không hiểu vì sao ông lão lại thấy buồn kỳ lạ. Nỗi buồn day dứt đeo đẳng đã xui khiến ông lão ghé chiếc xe cà tàng vào một quán cà phê. Ông lão ngồi nhấm nháp từng giọt đắng, nhưng trong lòng không hề cảm thấy khuây khỏa; trái lại, một thứ tình cảm mơ hồ cứ càng lúc càng trỗi lên trống vắng. Đúng lúc ông lão định gọi chủ quán trả tiền, bất chợt ông lão nhìn thấy đứa bé mà ông đã hỏi nó có mua bong bóng không. Chắc nó tìm tới đây kiếm chỗ tá túc qua đêm. Thằng bé có vẻ đói và mệt. Lang thang vạ vật cả ngày ngoài phố, chắc gì nó đã kiếm đủ miếng ăn. - Con ơi (ông lão gọi)! Tới ông biểu nè! Thằng bé rụt rè bước lại một cách thận trọng. - Con tên gì? - Tên thằng Đực (Đứa bé trả lời). - À, đúng, đúng. Con là thằng Đực đây mà. Vậy chớ ba má con tên gì? - Con hổng nhớ nữa. Con đi bụi từ nhỏ lận. - Ừa, đúng. Năm nay con lên sáu chứ gì. Con tên là Huỳnh Văn Đức. Tại con nhớ lộn là thằng Đực. Ông nội con tên là Huỳnh Văn Quang. Nhà con ở xóm Bún phường hai. Con bị lạc ông nội con từ nhỏ. Thằng bé ngước cặp mắt đen láy nhìn ông lão, hỏi một cách đầy tin tưởng: - Làm sao ông biết con tên Huỳnh Văn Đức, sáu tuổi, nhà ở xóm Bún? Ông lão kéo đứa bé vào lòng, xoa đầu nó mà nói một cách âu yếm: - Biết chứ! Vì ông chính là ông nội của con. Ông đến đây bán bong bóng là để tìm con. Thằng bé nhủi cái đầu khét nắng vào ngực ông, hỏi: - Ông nội, ông là nội của con thiệt à? - Thiệt chứ! Con là cháu nội yêu quý nhất của ông. Ba con là thầy giáo, tên là Huỳnh Văn Rạng. Má con cũng là cô giáo, tên là Nguyễn Ngọc Tú. Ngày mai ba má và ông nội sẽ đưa con đi sắm quần áo Tết. Đứa bé nghe nói tới đó thì oà ra khóc mùi mẫn. - Hức hức… Nội ơi! Vậy mà tụi nó biểu con là đồ không cha không mẹ. Tụi nó biểu con là đồ con hoang. Ông lão thấy cay xè nơi sống mũi, nơi hai đuôi mắt. Ông ấp cả hai bàn tay thô ráp lên lưng của nó mà vỗ vỗ. - Tụi nó không biết nên nói bậy đó con. Con là Huỳnh Văn Đức, là cháu nội của ông. Bây giờ ông cháu mình về nhà ăn cơm. Sáng mai cả nhà mình cùng đi chợ Tết, tụi nó sẽ biết con là cháu nội của ông. Ông lão đứng dậy, biểu đứa bé leo lên ngồi sau yên chiếc xe mô bi lét, rồi ra sức đạp máy. Khi chiếc xe phát nổ phành phạch, xịt khói mù mịt, ông lão mới sực nhớ là mình chưa trả tiền cà phê. Ngoái lại, ông lão thấy bà chủ quán đang nhìn mình. Ông lão đang định xuống xe để trả tiền, nhưng bà chủ quán cứ đưa cả hai bàn tay mà khoát khoát ra ngoài. Ông lão hiểu là bà ta muốn nói, lúc nào trả tiền sau cũng được. Khi chiếc xe chạy ra đường bờ sông, gần tới công viên Sông Tiền, ông lão nói với đứa bé: - Còn mấy hôm nữa là tới giao thừa. Tết năm nay là Tết con chuột. Chuột Mickey, khôn lắm đó con! Năm nay ông cháu mình hên lắm con ạ! Thằng bé vòng tay ôm chặt lấy tấm lưng gầy guộc của ông lão, nói một cách hồn nhiên: - Hèn chi hồi chiều con cứ hắt hơi hoài hà! Hổng biết ba má có nhận ra con không nữa? - Nhận ra chứ! Ông lão nói một cách khẳng định. Nhưng trong bụng ông lão lại nghĩ: phải làm sao cho tụi nó biết được tên thằng nhỏ bây giờ. Tụi nó không biết, lỡ tụi nó hỏi thằng nhỏ tên gì, con ai thì ông biết đối đoái làm sao. Nhưng không sao, tụi nó là giáo viên tiểu học, tụi nó sẽ hiểu, sẽ biết ngay mọi chuyện thôi mà. Về tới nhà mà nhìn thấy tụi nó, ông sẽ nói to lên mừng rỡ: “Tía mới tìm được thằng Đức đi lạc mấy năm đem về rồi nè! Mau ra mừng con tụi bây trở về rồi nè!”. Vậy là tụi nó hiểu chớ gì. Một ngọn gió mát rượi trỗi lên từ dòng sông dào dạt sóng. Mùa xuân phả nhẹ hương đêm dìu dịu trên đường phố. Tiếng máy xe nổ phành phạch như tiếng hát. Bài hát ấy, chỉ ông lão bán bong bóng và đứa bé mới hiểu được giai điệu sâu lắng của nó mà thôi. 2/21/2008 Chuyện Thằng Bờm
2/7/2008 Tết Mậu Tý - 2008CHÚC MỪNG NĂM MỚI - 2008 Thứ năm ngày 7 tháng 2 năm 2008 Ngày 1 tháng 1 năm 2008 (Ngày Đinh Sửu tháng Giáp Dần năm Mậu Tý) 2/4/2008 Sau Luỹ Tre Làng 5 - suongtrangĐánh 'cầu lông' nơi... xóm trọ! Có lẽ đã quen tiếng động cơ xe, nên khi anh Bình vừa đến, cánh cửa mở ra, anh Bình cho xe vào phòng và cánh cửa nhanh chóng đóng lại. “Phi đội” tắt xe máy từ đầu dãy nhà trọ, nhẹ nhàng tiến đến trước cửa “tổ chuồn chuồn”… Nhà chị Minh ở gần xóm trọ, chiều hôm đó có chị Hồng, bạn chị đến chơi, chị tiễn bạn ra cổng, vừa lúc đó một người đàn ông mặc bộ đồ thể thao, vai mang bao vợt cầu lông đi xe máy qua, rẽ vào dãy nhà trọ, chỉ vào người đàn ông, chị Minh nói với bạn: Chồng cậu có chơi cầu lông không? Cảnh giác đấy, để chồng chơi cầu lông như ông kia thì có ngày mất chồng. Chị Hồng nhìn kỹ người đàn ông vừa đi qua và ngạc nhiên nhận ra đó là anh Bình, anh rể chị. Tối hôm đó, chị Hồng điện cho chị gái và em trai đến nhà… Từ hôm sau, những lần đi đánh cầu lông của anh Bình đã có người theo dõi. Thông thường người ta đánh cầu lông một vài tiếng đồng hồ, còn anh Bình chỉ đánh vài chục phút lấy lệ, rồi đi đánh “sân” khác. “Sân” đó là phòng cuối của dãy nhà trọ, chủ nhân là cô Hằng, sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm; phòng khép kín, có đầy đủ tiện nghi cho hai vợ chồng trẻ, còn quá sang đối với một cô sinh viên bố mẹ là nông dân. Biết đích thị “tổ chuồn chuồn”, ba chị em bàn tính, hành động thế nào cho nhanh gọn, có hiệu quả và giữ được chồng. Hôm đó là cuối chiều thứ Bảy, tuy trời mưa nhưng theo anh Bình, đã hẹn lỡ thi đấu với mấy người bạn, ai thua chiêu đãi… Anh đi được một lúc thì “phi đội ta xuất kích”, anh không ngờ anh đang trong tầm ngắm của “phi đội”. Như dự đoán, anh Bình phóng xe thẳng đến “tổ chuồn chuồn”. Có lẽ đã quen tiếng động cơ xe, nên khi anh Bình vừa đến, cánh cửa mở ra, anh Bình cho xe vào phòng và cánh cửa nhanh chóng đóng lại. “Phi đội” tắt xe máy từ đầu dãy nhà trọ, nhẹ nhàng tiến đến trước cửa “tổ chuồn chuồn”, chờ đến khi nghe những tiếng thì thào, tiếng thở gấp… cậu em định đạp tung cửa, “phi đội” xông vào bắt quả tang Bình và Hằng trong tư thế, “hai trong một”… Những hình ảnh nóng bỏng của đôi trai gái đã lọt vào màn hình máy điện thoại di động đời mới của cô em gái và lọt vào khuôn hình máy ảnh kỹ thuật số của cậu em trai… Trong phòng chỉ đủ nghe tiếng khóc thút thít của Hằng, tiếng xuýt xoa của người vợ, mà không hề có cãi vã, chửi bới, đập phá… Ngay tối hôm đó xóm trọ thấy cô sinh viên xách túi rồi “lối cũ ta về”, còn sáng hôm sau vợ anh Bình thuê xe đến chở những tài sản trong phòng. Sau sự kiện đó, mọi người khen vợ anh Bình, một cô
giáo trường làng khôn ngoan, xử lý sự việc khôn khéo, hiệu quả, đúng là
“Gái ngoan làm quan cho chồng”, nếu không, anh Bình một trưởng phòng có
năng lực, uy tín đang diện qui hoạch sẽ bị kỷ luật, mất chức, cả nhà
mất nhờ… Xóm Trại nổi tiếng là nơi yên bình, êm ấm nhất huyện T (Vĩnh Phúc). Nay như vỡ òa khi nghe tin chị H bị một người đàn bà lạ mặt lột hết quần áo giữa đường, giữa chợ. Lâu nay chị H có tiếng là ngoan hiền, hiếu thảo. Chồng mất sớm, nhưng chị vẫn ở vậy nuôi con nhỏ, bố mẹ chồng nay đã gần chín mươi tuổi. Giờ nghe tin dữ về chuyện chị H trăng hoa bị người ta đánh ghen ngay ngoài chợ nhưng nhiều người vẫn cứ nghĩ đó chỉ là chuyện bông đùa, bịa đặt. Cuộc sống quê nghèo vất vả, quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho giời” mà chị H vẫn giữ được vẻ đẹp trời phú. Thanh niên trai tráng ai cũng thèm được rước chị về làm vợ. Chị H yêu anh T là người cùng làng. Nên đến tuổi lấy chồng, chị theo anh T về làm vợ. Vốn tính hiền dịu, lại đảm đang nên có khó tính mấy, mẹ anh T cũng không một lời phàn nàn về chị H. Vì thế mái tranh nghèo luôn tràn ngập niềm vui hạnh phúc. Thấm thoắt thời gian trôi đi, chị H sinh cho anh T một cậu con trai kháu khỉnh. Là con một, nay vợ sinh được con trai nên anh T vui lắm. Bố mẹ anh cũng vui không kém khi có cháu đích tôn nối dõi. Chị H lại càng được gia đình chồng thêm yêu quý. Nhà vốn nghèo, nay có con trai. Anh T quyết tâm lên thành phố làm thêm kiếm tiền nuôi con. Người anh T vốn yếu sẵn, nay lên thành phố lại phải làm toàn việc nặng nhọc nên anh sớm bị lao lực. Không chống đỡ được bao lâu, anh T ra đi khi niềm vui có con trai chưa nguôi. Bố mẹ anh và chị H cũng đau lòng khi anh T ra đi lúc còn quá trẻ. Thương con dâu còn trẻ, ông bà cũng có lần động viên chị H đi thêm bước nữa. Để thằng nhỏ lại ông bà sẽ chăm ẵm cho. Nhưng thương con chị không đành. Cũng từ lúc anh T mất, nhà chị H lại ngấp nghé người qua lại. Gái một con, vốn lại đẹp từ trước nên trai trong làng, ngoài xã ai cũng muốn được chị yêu. Cái đoan trang, đức hạnh của chị H cũng không giữ được bao lâu. Chồng mất, lại tuổi đang xuân…Một buổi trời mưa gió, người đàn ông thường tới “tán tỉnh” chị có dịp ở lại. Trời mưa to, nặng tai, lại kèm nhèm mắt bố mẹ chồng chị H cũng không thể phát hiện được. Thế rồi trong phút giây không kiềm chế được, chị H đã ngã vào lòng người đàn ông đó. Rồi “mưa dầm thấm lâu” chị H cũng quen mùi của người đàn ông lạ. Đáp lại, ông ta cũng cho chị thật nhiều tiền để nuôi bố mẹ chồng và con nhỏ. Đến hôm chị H đi chợ trên huyện, bị một người đàn bà lạ mặt cùng với hai ả khác lao vào xé toang quần áo chị đang mặc trên người. Có người nhận ra đó là mụ vợ của ông quan huyện cùng hai cô con gái. Họ đã điều tra được chị H là người làm ông quan huyện bỏ bê vợ và con cái nên tìm tới đánh ghen. Tin tức nhanh chóng lan rộng khắp cả huyện. Xấu hổ với bố mẹ chồng, với dân làng, mấy ngày sau chị dắt con nhỏ bỏ vào Nam. Để lại bố mẹ chồng cho người em gái chồng chăm sóc. Chỉ tội cho ông bà, nhớ cháu thương con mà mắc bệnh qua đời. Chú rể nhầm… vợ Khi chị dâu vào phòng bôi vôi vào chân để chữa say cho Thái, cảm giác buồn buồn cùng sự thăng hoa méo mó của rượu, Thái cứ ngỡ chị dâu là tân nương liền ôm choàng lấy, mặc cho người chị dâu kêu gào phản ứng... Nhà ông Quang (làng Chùa) có hai người con trai. Cậu con cả tên Tiến, cậu út tên Thái. Tháng trước, Thái đã bị công an xã “mời” lên trụ sở Ủy ban vì tội “ghẹo” gái nhà lành làm mất cả dây chuyền lẫn hoa tai. Mặc dù ông Quang và vợ chồng anh Tiến đã khuyên bảo nhiều nhưng Thái vẫn “ngựa quen đường cũ”. Nhưng rồi, ông Quang cũng tìm được cách để “buộc” Thái. Nhờ mai mối tốt nên ông Quang dự tính cưới cho Thái một cô vợ làng bên với suy nghĩ “Có vợ, nó sẽ bỏ được rượu chè mà chí thú làm ăn”. Còn Thái cũng tỏ ra “kết” cô gái ấy. Đám cưới của họ diễn ra đúng dự kiến. Chú rể trong ngày “đăng quang” mặt đỏ phừng phừng đi chúc rượu từng mâm đến say mềm để mặc cô dâu trong phòng cưới. Vì sợ cô dâu buồn khi thấy tân lang say bét nên mọi người dìu Thái về nhà anh trai. Không ngờ, khi chị dâu vào phòng bôi vôi vào chân để chữa say cho Thái, cảm giác buồn buồn cùng sự thăng hoa méo mó của rượu, Thái cứ ngỡ chị dâu là tân nương liền ôm choàng lấy, mặc cho người chị dâu kêu gào phản ứng. Nghe tiếng kêu, Tiến và mọi người chạy vào thì “gạo đã nấu thành cơm”. Trong tư thế nửa kín nửa hở, Thái vô cùng ân hận. Người tình đánh ghen… người tình “Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa”, chị Lan biết được ngoài mình ra anh Nam còn quan hệ với chị Phương nên chị đến tận nhà Phương để đánh ghen. Vụ đánh ghen giữa 2 người tình đã gây xôn xao làng trên xóm dưới. Người dân xã Đ (Hải Dương) trong những ngày này xôn xao vì vụ đánh ghen của chị Lan với chị Phương. Không phải đánh ghen vì chị Phương quan hệ với chồng mình, cũng không phải đánh ghen vì chị Phương quan hệ với người nhà mà chị đánh ghen vì người tình. Có lẽ mọi người trong xã Đ chẳng thể biết được quan hệ của chị Lan, chị Phương và anh Nam là như thế nào nếu như chị Lan không đến tận nhà chị Phương để đánh ghen. Số là các chị Lan và Phương có chồng đi lao động Hàn Quốc đã được 5 năm, đang trong tuổi xuân lại ở nhà riêng cùng với con nhỏ nên cả hai chị đều rất thiếu thốn tình cảm. Anh Nam có vợ đi Đài Loan cũng được gần 7 năm nên chuyện chăn gối không thể nói là đầy đủ. Chính vì vậy mà anh Nam đã tìm đến chị Lan người cùng hoàn cảnh để chia sẻ những thiếu thốn tình cảm. Họ có quan hệ với nhau trong một thời gian dài. Còn chị Phương, “cảnh chăn đơn gối chiếc” như vậy cũng không ổn nên chị chủ động tìm đến với anh Nam. Không thể cưỡng lại được nên Nam có quan hệ thường xuyên với cả hai người phụ nữ xa chồng này. “Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa”, chị Lan biết được ngoài mình ra anh Nam còn quan hệ với chị Phương nên chị đến tận nhà Phương để đánh ghen. Chị chửi bới, mạt hạ đồng thời đánh chị Phương vì tội quan hệ với anh Nam. Việc chị Lan đánh ghen đã gây xôn xao làng trên xóm dưới nên chính quyền xã không thể đứng ngoài cuộc. Công an xã Đ đã lập biên bản và yêu cầu chị Lan phải bồi thường về danh dự cho chị Phương và phạt tiền cảnh cáo vì gây rối an ninh trật tự. Sau vụ đánh ghen này người dân xã Đ có chuyện để rì
rào bàn tán về quan hệ của ba người. Có lẽ chị Lan là người thiệt thòi
nhất vì vừa bị phạt tiền lại vừa bị mọi người gán cho một câu chẳng hay
ho gì “đánh ghen vì bồ”. Còn anh Nam từ giờ chắc chẳng còn dám quan hệ
với hai người phụ nữ xa chồng này nữa.
Mất trăm triệu vì mấy cân đồng nát Chỉ vì nghe lời đường mật của những kẻ lừa đảo giả danh thầy bói, bà Năng đã đi vay mượn hơn trăm triệu đồng để "cúng bái" nhằm hốt tiền từ trên trời rơi xuống. Sống ở xã miền núi, tuy chỉ làm nông nghiệp nhưng nhờ có ruộng vườn rộng nên kinh tế nhà bà Năng thuộc hàng khá giả. Bỗng một hôm có người đàn ông trung niên ghé vào nhà bà xin nước uống, song dứt khoát không uống nước chè, nước lọc mà nằng nặc xin nước giếng, vì theo ông nước nhà bà Năng có lộc. Uống xong mắt ông ta giật giật, rồi nhìn bà Năng bắt đầu phán... Lúc đầu bà Năng còn cười tủm, nhưng càng nghe càng thấy “chí phải” nên bà mời ông thầy vào nhà, ông ta lại phán tiếp rằng đất nhà bà được cổ nhân yểm rất nhiều vàng. Bà Năng nghe vậy trợn tròn mắt, sướng toát cả mồ hôi. Khi bà Năng bảo chỉ chỗ thì ông ta lắc đầu mà rằng: “Hiện thời vía gia chủ chưa đứng tuần trăng” nên phải chờ sang tháng tới và phải có “bậc tiền bối” của ông ta mang theo sách Tàu thì mới thấu thị được huyệt vàng. Ông thầy còn dặn bà không được cho hàng xóm biết làm kinh động đến thổ thần, thổ địa. Sang tháng sau, người đàn ông trên đưa “bậc tiền bối” mang theo đồ nghề đến nhà bà Năng. Thầy bảo gia chủ chuẩn bị xôi gà và nhiều tiền mặt đặt lên bàn thờ để làm lễ. Lễ xong chờ đến tối lấy bạt quây ở góc vườn, thầy trực tiếp động thổ còn gia chủ lấy nước giếng đổ vào ngâm... Trong buổi đầu tiên ấy các thầy chỉ mò được 1 chiếc nhẫn và 1 sợi dây chuyền. Hai thầy lẩm bẩm với nhau: Do “ngài” chê lễ mọn nên chưa cho đúng huyệt. Sáng hôm sau các thầy về sớm không nhận tiền công, chỉ dặn gia đình chuẩn bị lễ chu đáo, nhất thiết phải có nhiều tiền thật, buộc thành tập “dồn thêm dương khí để ngài thoát âm thăng thiên”. Các thầy về rồi, bà Năng đem dây chuyền đi thử và sướng rơn vì đúng là vàng thật. Bà vội vã huy động con cái, rồi chạy khắp nơi vay mượn được ngót nghét trăm triệu đồng để các thầy cúng. Đúng hẹn hai thầy lại lên. Lần này làm lễ vào nửa đêm, và đã mò được cơ man những ngỗng vàng, vòng cổ, hoa tai, trâm cài...v.v... Các thầy cho xếp vào một chiếc tráp, tứ phía có hình âm dương, bê đặt lên bàn thờ cạnh chồng tiền làm lễ tạ ơn. Thầy bảo phải tắt hết điện chỉ để một ngọn nến, người nhà tất cả được trùm khăn đỏ phủ phục trước bàn thờ. Khấn xong, thầy mở khăn cho bà Năng và bảo bà xếp hết số tiền gần trăm triệu vào tráp, đoạn các thầy dùng bùa dán kín trừ tà, rồi chỉ anh trai cả chôn xuống chân bàn thờ, dặn đúng 3 tháng 10 ngày mới được mở, nếu sai sẽ phát bệnh mà chết. Thầy còn nói thêm, nhớ giữ chiếc tráp cẩn thận trả lại thầy. Công việc xong xuôi cũng vào lúc trời sáng. Vất vả vậy mà các thầy chỉ lấy có chín trăm chín mươi chín ngàn tiền công. Thấm thoát đã 3 thàng 10 ngày trôi qua, con cháu bà Năng tập trung đông đủ chuẩn bị chia chác. Nhưng ôi thôi, khi chiếc tráp mở ra số tiền gần trăm triệu biến thành tiền giả, còn những thứ châu báu kia cũng chỉ có thể bán được với giá đồng nát. Cả nhà thất thần, riêng bà Năng thì ngất lên ngất xuống vì tiếc của. Sự việc vỡ lở, lúc đó dân làng mới hay biết và ngành
chức năng vào cuộc. Nhưng đến gần nửa năm sau, một trong hai tên lừa
đảo mới bị bắt. Chắc chắn hắn sẽ bị pháp luật trừng phạt. Chỉ có điều
số tiền tráo được bọn chúng đã phung phí hết, nay lại phải ngồi trong
nhà đá bóc lịch, chẳng biết đến bao giờ hắn mới có đủ tiền để hoàn trả
lại bà Năng. Đây chính là bài học cho những ai nhẹ dạ, tin vào những
điều nhảm nhí. Mừng thọ hóa đoản thọ Cụ Toản ngày ấy tuổi tròn 80. Thời gian này cụ không được khỏe, ăn ít, ngủ kém vì bệnh tim mạch. Trước ngày đó, anh Toán – con trai trưởng cụ có nguyện vọng mừng thọ cho bố nên đã triệu tập các em đến để họp bàn. Anh Toán nói: “Bố nay đã 80 tuổi, anh em ta sẽ tổ chức lễ mừng thọ cho bố. Nếu được các em nhất trí ta sẽ tổ chức lễ mừng thọ cho bố thật long trọng. Ta sẽ mời anh em trong họ mạc và bà con xóm giềng đến dự thật đông vui. Sau buổi lễ ta tổ chức tiệc nhẹ – bia, bánh kẹo. Tôi dự kiến số người dự khoảng một trăm người. Xin ý kiến các cô các chú!”. Cô út lên tiếng: “Bố đang yếu mệt để lúc bố khỏe hãy mừng thọ thì hay hơn”. Anh Toán gạt phắt: “Không được, ta tổ chức vào đúng ngày sinh của bố mới đẹp, mới thiết thực”. Thấy không ai có ý kiến, anh Toán nói tiếp: “Việc tổ chức mừng thọ bố, là con ai cũng có trách nhiệm. Tôi đề xuất mỗi gia đình cô chú góp 100 ngàn còn bao nhiêu vợ chồng tôi xin chịu hết. Được không?” – ý kiến của anh cả được mọi người chấp thuận. Hôm mừng thọ cụ Toản trời nắng chang chang. Buổi lễ ở sân được căng phông bạt như một đám cưới. Cụ Toản mặc áo đỏ, mũ đỏ ngồi ở một ghế bành. Trưởng ban tổ chức kiêm người dẫn chương trình theo bài bản trình tự đã được xếp đặt giới thiệu từng người vào chúc thọ. Việc này khiến cụ Toản đã mệt lại càng mệt thêm. Rồi đúng lúc vị đại diện mặt trận thôn phát biểu thì cụ Toản ngất xỉu. Một người vội bế cụ vào giường, người cởi áo, cởi mũ, người quạt cho cụ. Thấy cụ Toản vẫn bất tỉnh anh con trưởng vội gọi ô tô đưa bố đi cấp cứu. Cụ Toản nằm viện được 3 ngày thì mất. Sau đám tang cụ,
nhiều người làng cứ rì rầm: “Tại con cháu mừng thọ nên cụ Toản mới đoản
thọ”. Lợn không sườn, không lòng Đám ma ông cụ Tứ vào đúng ngày nóng nực nhưng đã được con cháu, xóm giềng tổ chức một cách long trọng. Bà con, chòm xóm và cả những đồng nghiệp các con cháu cụ từ xa lặn lội về viếng càng khiến người làng xuýt xoa, bàn tán về việc cụ tốt phước, các con cháu làm mát mặt cụ nơi suối vàng. Nhưng, buổi sáng đưa cụ ra đồng thì buổi chiều đã thấy các con cụ lời qua tiếng lại, thậm chí to tiếng và mạt sát nhau… Ông bà Tứ sinh được 4 gái một trai. Các con gái lấy chồng xa, chỉ có duy nhất cậu út Thạch sống với ông bà. Năm ngoái cụ bà mất cũng vào đợt hè nóng nực và mới làm giỗ đầu cho cụ bà được mấy ngày thì cụ ông đi. Có lẽ vì vậy mà sự thương cảm khi các con không còn cha mẹ càng nặng. Tang gia bối rối cũng chẳng ai muốn bày vẽ làm gì, nhưng cái lệ làng đã định phải có con lợn để cúng, sau đấy làm cơm mời bà con. Đến khi gom tiền phúng và tra sổ ghi, cô con gái trưởng sống ở tỉnh tính đi tính lại thì thấy thiếu vài cái phong bì vì lúc người ta đến viếng cô có ngồi nói chuyện với họ. Đến lúc này thì vợ anh Thạch cũng nói số phong bì mình nhận nay cũng bị hụt hơn chục cái. Năm ngoái cũng xảy ra chuyện này, nhưng vì mệt mỏi nên mọi người cho qua. Lần này cô em dâu lại kêu mất, giọng lại có vẻ xẵng càng khiến mọi người nóng ruột. Chẳng ai lấy thì sao lại thiếu? Đến phần chi tiêu cho đám ma, cô em dâu tính đã lên đến hơn 5 triệu đồng, nào tiền áo quan, tiền chè, tiền lợn. Sau khi cộng trừ kỹ lưỡng, mọi người thấy tiền phúng vẫn thiếu nên phải bỏ tiền túi ra để đưa cho vợ chồng Thạch, người đã ứng tiền để lo liệu việc này. Điều này khiến ai cũng ức vì phải nộp nhiều. Năm ngoái họ đã phải chi những khoản trời ơi như vậy mà năm nay đám ma cũng thế nhưng số tiền lại gấp đôi. Các anh con rể vì bực mình trước kiểu nhập nhằng, với lại không muốn dính vào chuyện bố mới chết mà con đã mất đoàn kết nên bỏ về. Tưởng câu chuyện đến đây là xong, nào ngờ lúc này bà chị cả mới khui ra một chuyện. Số là năm ngoái cũng giết lợn, ăn cơm thấy có canh xương nhưng toàn những xương đốt, xương cục mà chẳng thấy miếng sườn nào và cả bộ lòng nữa đi đâu? ở nhà mấy ngày nhưng bữa cơm dọn ra tuyệt nhiên không thấy những thứ “quan trọng” ấy. Đám ma bà cụ năm ngoái, chị cũng thắc mắc nhưng vì nhiều việc nên cho qua, nhưng năm nay chị quyết làm ra chuyện. Khi nghe chuyện mọi người mới ớ ra, nhưng vợ chồng cậu út không nhận. Thế nhưng có ai ngờ ngày giết lợn, bà chị cả đã bí mật cử cậu con theo dõi và biết được bộ lòng, sườn đã ra tới chợ huyện. Hai thứ đó được một người em ruột của mợ Thạch bán giữa chợ. Chẳng biết anh em nhà ấy giải quyết vụ việc như thế
nào, nhưng người làng biết chuyện đã lắc đầu, phen này anh em nhà họ sẽ
còn lục đục mãi nhất là chẳng còn cha, mẹ để hàn gắn. Người làng trách
vợ chồng cậu Thạch làm những điều thất đức, gian lận với chính cả anh
chị em ruột. Sau chuyện này, mỗi lần nhìn thấy vợ chồng nhà Thạch,
người làng đều có ý lảng. Ăn cả gốc gạo Phải mất cả chục năm mới trồng được cây gạo, nhưng chỉ vì bất đồng với ông Thụ mà ông Lương chặt cây gạo, làm cả làng mất chỗ nghỉ mát. Thôn Quýt nhiều người bực mình với ông Lương về chuyện cây gạo đầu làng. Nguyên cây gạo này, ông Lương trồng đã hơn ba chục năm, nay tỏa bóng sum xuê mát rượi, người làng đi làm đồng về ai cũng lấy đó làm chốn dừng chân nghỉ mát. Ông Lương thấy bà con tụ tập dưới bóng cây nhà mình bèn nghĩ ra cách mở quán nước bán cho bà con. Lúc đầu chỉ là điếu thuốc, ấm chè về sau ông lại biến gốc gạo thành cái “bách hóa tổng hợp” với đủ thứ hàng hóa tiêu dùng. Ngày trước, dừng chân ở gốc gạo làng thoải mái trò chuyện, trao đổi. Nay nhà ông mở quán, ai dừng chân mà không uống cốc nước hay ăn cốc chè thì thấy cũng bất tiện. Mà cái sự ăn quà thì ở làng này vốn hay gây ra đồn thổi. Như chị Hằng chẳng hạn, ngày nào dừng chân ở gốc gạo cũng chỉ uống cốc nước chè xanh lấy lệ, vậy rồi cũng đến tai anh Tuấn (chồng chị) rằng chị ăn quà “như mỏ khoét”, mỗi buổi làm đồng liệu được mấy hào mà hôm nào cũng quán xá thì làm gì còn phần chồng phần con. Vì những chuyện như thế nên nhiều người “ghét” ông Lương, cho rằng ông là kẻ “móc túi khéo”, lợi dụng địa thế nhà mình có gốc gạo mát để “bắt chẹt” dân làng, nhiều người mạnh miệng còn bảo ông là người “ăn cả gốc gạo”. Người “ghét” ông Lương nhiều nhất có lẽ là ông Thụ, nhà ở ngay bên cạnh. Ông Thụ hay chuyện, chiều nào cũng vác điếu cày ra gốc gạo bắt chuyện với hết người này đến người khác. Từ dạo ông Lương mở quán bán hàng thì vợ con ông Thụ “cấm cửa” ông đi nói chuyện như trước với lý do “gốc gạo là chỗ buôn bán của hàng xóm”. Nhà ông Thụ đông con, việc đồng áng không phải mó tay vào, ông lại hay nghe đài nên biết nhiều chuyện trên trời dưới biển, không nói cứ để trong người cũng khó chịu. Chuyện bán hàng nhà ông Lương đang thuận chèo mát mái thì ông Thụ được bà con tín nhiệm bầu làm trưởng thôn. Việc đầu tiên mà ông Thụ đề ra là tìm cách “dẹp” cho bằng được cái quán nước của ông Lương. Nhân buổi họp thôn bàn về việc xây dựng đường làng ngõ xóm xanh - sạch - đẹp, ông Thụ nêu ý kiến: - Cây gạo đầu làng, ông Lương có công trồng và chăm sóc nhưng thuộc đất đường làng nên không thể tùy tiện mở quán nước được. Ông Lương trình bày là ông mở quán có ủy ban, có cơ quan thuế cho phép, không có việc gì sai trái. Hơn nữa nhà ông không những có công trồng, chăm sóc mà còn luôn dọn dẹp gốc gạo sạch sẽ thì mới có chỗ nghỉ mát như thế nên hưởng chút lộc là lẽ đương nhiên. Ông Thụ gạt đi: “Dù sao thì dù, ông cũng không được mở quán nữa. Bằng không thì thôn sẽ chặt cây gạo đi cho thông thoáng đường làng”. Bực mình với ông Thụ, ông Lương lớn tiếng: “Được, ngày mai tôi chặt cây gạo xuống làm củi, xem mọi người lấy đâu ra chỗ mà ngồi... ” Nói là làm, hôm sau ông Lương cùng mấy cậu con trai mang cưa ra cưa đứt cây gạo mang về. Ông Thụ cũng không còn chỗ “đắc địa” để kể lể những câu chuyện của mình, còn ông Lương cũng mất chỗ bán hàng. Bà con thôn Quýt thì mất chỗ nghỉ ngơi mỗi lúc đi làm về. Lúc này, mọi người mới thấy nhớ bát nước chè xanh nhà ông Lương và tiếc cây gạo cũ. Ông Lương cũng vậy, trách dân làng, trách ông Thụ rồi ông cũng phải tự trách mình cả giận mất khôn. Trồng được cây gạo tốt mất cả mấy chục năm, chỉ vì một
chút nóng giận mà khiến cả thôn ai cũng thấy mất mát. Hai ông đứng nhìn
gốc gạo, chép miệng thở dài: Giá mà... Hết đường chối cãi Chuyện gia đình chị Nhâm hay vứt rác ra đường, trồng rau màu trên đất chung của xóm nhất là việc mở quán bi – a tụ tập nhiều thanh niên đã trở thành đề tài sôi nổi với bà con làng Chùa. Chuyện sáng tỏ như ban ngày, dân làng ai cũng biết nhưng vẫn lờ đi vì không thích dây dưa với “cái nhà chị Nhâm chua ngoa, đanh đá”. Hễ có ai động đến chuyện nhà chị là y như rằng chị Nhâm xoa xuýt ngay, rồi kể khổ: -Gớm! Các bác cứ quá lời. Chồng em quanh năm làm ăn xa. Một nách em nuôi ba đứa nhỏ, lại không việc làm, em không trồng thêm rau thì ai nuôi con em. Còn ai đến nhà em cũng là vì họ yêu quý mình, chồng em còn chưa nghi ngờ thì các bác đừng đánh tiếng này, tiếng nọ… Chuyện cũng chẳng có gì to tát, với lại việc nhà nông quanh năm đầu tắt mặt tối nên chẳng còn ai để ý dạo này nhà chị Nhâm vi phạm điều gì. Chỉ riêng ông Thưởng, hàng xóm nhà chị Nhâm là tinh mắt. Bởi lẽ, dạo này cứ xẩm tối, cơm nước chưa xuôi ông đã thấy thằng Tùng – con trai ông nhấp nhổm ra khỏi nhà. Ban đầu ông nghĩ thanh niên đến tuổi phải đi tìm hiểu nên cho qua. Sau ông thấy Tùng có nhiều biểu hiện khác lạ như khi ra khỏi nhà hay có thái độ bồn chồn, bối rối như người có tật. Sinh nghi, nhiều lần ông theo sau nhưng trời tối, mắt lại kèm nhèm nên chưa ra khỏi cổng, bóng Tùng đã mất hút. Hôm nay, chập choạng tối thấy thái độ con có vẻ nóng vội, đoán có chuyện ông giả như không để ý nhưng thực tình quyết bám sát để xem có chuyện gì. Cơm nước xong, Tùng chào bố mẹ với lý do đi sinh nhật rồi nhanh chân bước ra khỏi nhà. Ngay lập tức ông Thưởng theo chân luôn. Hóa ra Tùng đến nhà chị Nhâm. Thôi rồi, chẳng lẽ chuyện thiên hạ đồn nhà chị Nhâm này, nọ lại liên quan đến thằng Tùng nhà mình sao. Máu trong người nóng bừng lên, nhưng ông cố bình tĩnh theo dõi đầu đuôi. Kiễng chân nhòm qua cửa sổ và thấy nhóm thanh niên tụ tập đánh đỏ đen. Thảo nào mà thằng Tùng dạo này cứ hay xin tiền bố mẹ hết đi sinh nhật, đám cưới lại đi thăm bạn ốm…. Cái nhà chị Nhâm này thế mà ghê, hết tật này lại đến tật nọ… Đã thế ông quyết làm rõ trắng đen cho nhà chị ta hết đường chối cãi. Khéo léo rời khỏi nơi “tập kích”, ông Thưởng nhanh chân đi báo ngay cho công an và chính quyền địa phương. Bắt quả tang tại chỗ, chị Nhâm líu ríu nhận lỗi và ký vào biên bản. Chuyện xôn xao cả xóm, đi đến đâu người ta cũng lôi tên chị Nhâm ra mà réo. Trai làng Chùa xưa nay vốn hiền lành, chất phác là thế mà lại bị cái nhà chị Nhâm ham giàu quên tình xóm làng lôi kéo vào chuyện cờ bạc, đỏ đen. Chẳng ai quan tâm đến việc ai lập công lớn nhưng ông Thưởng cũng chẳng lấy làm phật lòng. Chỉ có chị Nhâm từ đó hết ghê gớm hẳn, đi đâu cũng chẳng dám ngẩng đầu nhìn ai. Ham “ cá”, mất bò Đã mấy ngày trôi qua mà không khí trong nhà ông Lê xóm tôi vẫn chưa hết căng thẳng. Vợ chồng ông Lê vốn bình thuận là thế, nay lại ra nông nỗi này, âu cũng do cái tật ham cá độ mà ra cả. Bà Lê ngồi trước hiên nhà, rầu rầu nhìn ra đường, nước mắt chảy ngắn chảy dài : “Hu...hu...hu.. tui đã bảo với ông rồi, xem thì xem chứ đừng có “cá” với độ, mà ông vẫn không chịu nghe, để rồi mất luôn cả con bò đực, cả gia tài trông vào nó, vậy mà... sao số tôi lại khổ thể này? Hu...hu..hu”. Ông Lê đưa chén rượu lên môi, tu cái ực rồi đập mạnh tay xuống bàn, quát lớn: “Bà có im cái miệng đi không? Gan tui đang sôi lên đây này”. Nghe tiếng cãi vã, hàng xóm ai cũng chỉ biết lắc đầu, vợ chồng ông Lê vốn bình thuận là thế, nay lại ra nông nỗi này, âu cũng do cái tật ham cá độ mà ra cả. Chả là sau vụ lúa, được mấy ngày rỗi rãi, lại đúng dịp trên ti vi sắp có trận bán kết Cúp châu Âu, ông Lê háo hức lắm. Ông vốn mê bóng đá, nhưng vì dạo này bận vụ mùa nên ông chẳng xem trận nào cả. Nay thì thỏa thích ông hò hét, mà đúng ngày cái đội bóng Chen-xi mà ông rất mê. Hôm diễn ra trận bóng, ông Lê cáo vợ rồi sang nhà ông An đầu ngõ để xem nhờ, tiện thể vừa xem vừa lai rai đôi xị cho hăng. Ngồi chén tạc chén thù, tự dưng ông An đề nghị: “Trận này hay phải biết, hay chúng ta làm cuộc độ cho thêm máu, chứ xem suông cũng chán, ông Lê nhỉ?”. Nghe cá độ, ông Lê cũng chợn, bởi lẽ ông chẳng có chi đáng giá cả, nên ông giả đò lờ sang chuyện khác. Thấy ông bạn “đánh trống lảng”, ông An khích bác: “Nếu không có chi thì tui đi ngủ đây, xem chán lắm, ông ngồi xem với mấy đứa nhỏ nghe”. Ông Lê nghe vậy, nổi tự ái, nói lớn: “Ông khinh tui đấy à? Chơi thì chơi chứ sợ gì?”. Biết đã đánh trúng điểm yếu của ông Lê, ông An đưa chén rượu lên, khà một tiếng rồi nhẹ nhàng: “Ấy là tui nói vậy, chứ nếu ông không thích thì thôi, tui có ép đâu”. Được thêm mấy li rượu tiếp sức, ông Lê mạnh mồm: “Nào, ông thích chơi kiểu gì, hay tôi có ý này, tôi bắt Chen-xi thắng, nếu tôi thua, tôi mất ông con bò, nếu ông thua, ông để tôi lấy cái ti vi này”. Nghe ông Lê nói vậy, ông An vỗ đùi cái đét, cười khà khà: “Có thế chứ, nào, chúng ta cạn li”. Lai rai làm cam kết, ông Lê chắc mẩm phen này sẽ được cái ti vi, vốn là niềm mơ ước của ông mấy năm nay, bởi nghe đâu , đội Chen - xi dạo này mạnh lắm, thắng như chẻ tre. Thế là ông vừa ngồi xem bóng vừa rung đùi đầy tự tin. Ai dè, chưa đầy 4 phút sau khi bóng lăn, ông Lê và đội Chen xi bị giội một gáo nước lạnh vì bị đối phương sút thủng lưới. Mặt ông Lê bắt đầu biến sắc dần và kết cục như thế nào thì chắc ai cũng rõ. Ông An hoan hỉ dắt con bò về nhà mình. Nhìn theo bóng con bò, ông Lê chỉ biết lắc đầu, thở dài nuốt giận vào trong. |
|
|